Chương I: Cơ sở lý luận chung về Marketing. Chương 2: Thực trạng công tác Marketing Công ty cổ phần dược — thiết bị y tế Đà Nẵng. Chương 3: Xây dựng chính sách Marketing tại Công ty cỗ phần dược — thiết bị y tế Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Lĩnh vực Marketing y tế đã bắt đầu được các công ty trong nước quan tâm hơn kể từ những năm 2000.
Còn dịch vụ khám và chữa bệnh hiện nay tình trạng bệnh viện quá tải vẫn phô biến, vậy nên các nhà quản lý bệnh viện rất chủ quan khi thấy rằng cơ sở của mình đông khách hàng, do đó vấn đề marketing vẫn chưa thực sự được chú trọng đặc biệt trong các bệnh viện công Các bệnh viện tư do phải tự trang trải chỉ phí, ít có nguồn bệnh dồi dào từ bảo. hiểm y tế, giá dịch vụ thường lại cao hơn nên vấn đề thu hút bệnh nhân đến điều trị là khá khó khăn hơn. Tuy nhiên một thực tế cho thấy với những viện tư lớn làm ăn uy tín và có chú trọng marketing thì lượng bệnh nhân có khi còn hơn rất nhiều bệnh viện công lớn. Bài viết “Báo cáo phân tích ngành dược” của công ty chứng khoán MBH nam 2010 đã đưa ra dựa trên các dữ liệu thống kê tổng quan về tình hình ngành dược thế giới và của Việt Nam.
Báo cáo đưa ra các phân tích tổng. quan về ngành dược Việt Nam năm 2010. Năm 2010, bộ Y tế ban hành “Qw¿ hoạch chỉ tiết phát triển công nghiệp được Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 tằm nhìn đến năm 2030° với mục tiêu chính: oXây dựng ngành công nghiệp dược Việt Nam theo định hướng chuyên môn hóa có cơ cấu phù hợp với phát triển chung của ngành được và nhu cầu của xã hội, trong đó bao gồm công nghiệp bào chế, công nghiệp sản xuất vắc xin, sinh phẩm y tế, công nghiệp bao bì được và công nghiệp trang thiết bị phục vụ sản xuất dược. oHiện đại hóa công nghệ sản xuất, đổi mới trang thiết bị và nghiệp vụ quản lý, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tăng cường hợp tác đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực nhằm nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu thuốc phòng và chữa bệnh cho nhân dân.
Sản xuất trong nước là chủ đạo đối với thuốc thuộc danh mục thuốc thiết yếu, thuốc thuộc các chương trình y tế quốc gia Đề tài: Chiến lược marketing cho sản phẩm Ống nhựa của công ty TNHH hóa nhựa đệ nhất tại thị trường miền Trung của tác giả Lê Hồng Phong, năm 2012 đã hệ thống những lý luận, những vấn đề cơ bản về chiến lược và marketing trong doanh nghiệp. Cụ thể trình bày các chiến lược tổng quát, lợi thế cạnh tranh cũng như việc tạo dựng lợi thế cạnh tranh thông qua chiến lược marketing của doanh nghiệp.: “Tăng cường kiểm soát nội bộ doanh thu tại công ty cỗ phần được — thiết bị y tế Đà Nẵng” của tác giả Trần Thị Thanh Nga, năm 201 1 nêu lên thực trạng kiểm soát doanh thu của công ty và đưa ra các giải pháp nhằm kiểm soát doanh thu cho công ty. Đề tài đã mô tả toàn bộ cơ cầu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ các phòng ban trong công ty. Đề tài: “Chiến lược phát triển công ty cổ phân dược Danapha của tác giả Đồng Minh Quân", năm 2012, đưa ra chiến lược phát triển của công ty Danapha ở thị trường Miền Trung - Tây Nguyên.
Đề tài cũng phân tích nhu cầu thị trường, tâm lý người tiêu dùng và tình hình sản xuất kinh doanh của công ty kinh doanh được ở Việt Nam. Từ đó đề xuất chiến lược phù hop cho công ty. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ CHÍNH SÁCH MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP 1. DINH NGHIA VE MARKETING Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về marketing và cho đến nay người ta vẫn chưa thống nhất một khái niệm chung về marketing.
Marketing là hết sức cơ bản đến mức độ không thể xem nó là một chức. năng riêng biệt. Nó là toàn bộ công việc kinh doanh dưới góc độ kết quả cuối cùng, tức là dưới góc độ khách hàng. Thành công trong kinh doanh không phải là do người sản xuất, mà chính là do khách hàng quyết định.
(Peter Drucker) Một khái niệm khác cho rằng “Ä/arketing là hoạt động của con người hướng đến việc thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông qua quá trình trao đổi lB. Quan điểm này xuất phát từ lý thuyết trao đôi thị trường (những học thuyết của nên kinh tế tự do bắt nguôn từ thế kỷ 17, 18 của thế kỷ trước) là nền tảng cho học thuyết kinh tế hiện đại sau này. Dựa trên khái niệm về động cơ cố hữu trong tâm lý con người, Adam Smith tin rằng sự cạnh tranh diễn ra như một cơ chế bảo vệ tính điều hòa của nền kinh tế và bản thân con người có một mong ước cố hữu là làm cho điều kiện sống tốt đẹp hơn do đó có sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất. Cuối cùng ông cho rằng con người luôn có một thiên hướng buôn bán, đổi chác và trao đổi một vật phẩm nào đó nên họ trở nên phụ thuộc lẫn nhau.
Như vậy có thẻ nói quá trình trao đổi được dẫn dắt bởi nhu cầu và mong muốn mỗi các nhân. Và ngày nay, hầu hết các trường phái marketing đều thống nhất ở quan điểm Marketing là thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Nếu trước đây marketing là làm sao quảng cáo tốt để bán hàng thì ngày nay điều mà các nhà làm marketing quan tâm là làm thế nào để hiểu rõ khách hàng, hiểu rõ nhu cầu của họ từ đó phát triển những sản phẩm mang lại cho khách hàng những giá trị vượt trội với mức giá hợp lý, phân phối và cỗ động một cách hiệu quả, thì việc bán những sản phẩm đó không có vấn đề gì khó khăn. Tóm lại marketing là một tiến trình xã hội và quản lý theo đó các cá nhân và các nhóm có được cái mà họ mong muốn thông qua việc tạo ra, trao đổi những sản phẩm giá trị với những người khác [9, tr.
Để thực hiện được những quá trình trao đổi đòi hỏi phải tốn rất nhiều. công sức và có trình độ nghiệp vụ chuyên môn. Quản trị marketing diễn ra khi ít nhất có một bên trong vụ trao đổi tiềm ẩn suy tính về những mục tiêu và phương tiện để đạt được những phản ứng mong muốn từ phía bên kia. Quản trị marketing là quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mãi và phân phối hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi với các nhóm mục tiêu, thỏa mãn những mục tiêu của khách hàng và tổ chức [9, tr.2 KHÁI NIỆM VỀ CHÍNH SÁCH 1.1 Khái niệm chính sách Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết (Jame Anderson) Chính sách được hiểu là các quyết định liên quan đến những chỉ dẫn để thực hiện những khuyến khích, những giới hạn hoặc những ràng buộc của tô chức.
Trong chính sách bao gồm rất nhiều các quyết định và các quyết định này có quan hệ chặt chẽ với nhau, phối hợp với nhau để thực hiện một mục tiêu ngắn hạn nào đó với nguồn lực hạn chế cho phép.2 Phân biệt chính sách với chiến lược Để phân biệt hai khái niệm này, trước tiên cần phải tiếp cận khái niệm chiến lược. Từ xưa đến nay, người ta đã đưa ra nhiều khái niệm về chiến lược dưới nhiều góc độ khác nhau.Hamer Mesh trường quản trị kinh doanh Havard quan niệm: Chiến lược là tập hợp các mục tiêu, mục đích hoặc các tiêu đích và các chính sách cũng như kế hoạch chủ yếu đề đạt được mục tiêu đó. Theo quan điểm truyền thống: Chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản đài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu đẻ thực hiện các mục tiêu đó. Đây là một trong những khái niệm phô biến nhất.
Như vậy, các khái niệm trên đã cho thấy chính sách chỉ là một yếu tố trong tập hợp các yếu tố tạo nên chiến lược. Khái niệm chiến lược rộng lớn hơn, trừu tượng hơn và nó chính là mục tiêu dài hạn có tầm nhìn sâu rộng, còn chính sách lại là nhiều quyết định để thực hiện những mục tiêu ngắn hạn trong mục tiêu dài hạn của chiến lược. Chiến lược Chính sách - Gỗm các mục tiêu, mục đích, các | - Gồm các quyết định chính sách để đạt được mục tiêu ~ Là mục tiêu dài hạn - Là mục tiêu ngắn hạn. -Chỉ ra hướng kinh doanh cho DN |-Là hoạt động cụ thể của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu 1.
PHOI THUC MARKETING Khái niệm: Phối thức marketing là những công cụ mà người làm marketing dùng để khơi dậy những đáp ứng mong muốn từ khách hàng mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu của mình. Theo cách tiếp cận cũ, những công cụ trong phối thức marketing gồm 4 yếu tố (4P) là sản phẩm, giá, phân phối, và truyền thông cổ động, Phối thức Marketing. Ti ng ve Phan ph Gia ‘Truyén théng cổ động.1: Bốn P của phối thức marketing Ngoài cách tiếp cận 4P như trên, hình 1.2 cho chùng ta cách tiếp cận mới về phối thức marketing. Với cách tiếp cận này một công ty kinh doanh sẽ chuẩn bị phối thức cung ứng của mình bao gồm sản phẩm, dịch vụ, giá và sử dụng phối thức truyền thông cổ động như khuyến mãi ban hàng, quảng cáo, lực lượng bán, quan hệ công chúng và marketing trực tiếp để tiếp cận với các kênh thương mại và các khách hàng mục tiêu.
Đặc biệt công ty có thể thay đổi giá, qui mô lực lượng bán hàng và chỉ tiêu cho quảng cáo trong ngắn hạn. Công ty có thể phát triển sản phẩm mới và thay đổi các kênh phân phối chỉ trong dại hạn. Quảng cáo Khuyến mãi = ông | Giá | ảnh phânnhà | ,| 1 q nạị Lực lượng bán4 _ |,| Kênh Khách || Công y Dich = phối hàng mục chúng vụ iting true + +? + Quan hệ công chúng Hình 1.2: Chiến lược phi thực marketing Bồn công cụ của phối thức marketing thể hiện cái nhìn từ phía người bán đối với các hoạt động marketing sẵn có nhằm tác động lên người mua, từ quan điểm của người mua, mỗi công cụ marketing được thiết kế nhằm cung ứng lợi ích cho khách hàng, Robert Lauterborn gợi ý bốn P của người bán tương ứng với 4C của người mua như sau: Bon Ps Bon Cs Sản phâm. Giá trị cho khách hàng Giá Chỉ phí của khách hàng.
Phân phối Sự tiện lợi Truyền thông cô động.