Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học 1. Chính sách công Theo tác giả Lê Chi Mai của Học viện Hành chính quốc gia có một số đúc kết quan trọng về nội hàm của chính sách công.
Đó là: + Nhà nước chính là chủ thể ban hành chính sách công. + Chính sách công là những quyết định hành động, thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó và những hành vi thực hiện các dự định đó. + Mục đích của chính sách công là giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định [31, tr. Kế thừa những tư duy, ý tưởng và đúc kết cac kết quả, thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả Đỗ Phú Hải của Học viện Khoa học xã hội đã đưa ra một khái niệm về chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có tính gắn kết của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [23,tr.
Từ những phân tích trên, có thể thấy chính sách công có những đặc trưng cơ bản như sau: Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước. 9 Thứ hai, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn. Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống KT - XH theo những mục tiêu xác định. Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau.
chính sách hợp tác quốc tế về giáo dụcđại học trong luận văn này thuộc phạm vi chính sách công được hiểu với các đặc trưng cơ bản trên. Giáo dục đại học Việc phát triển những ngành công nghệ bản địa cũng như năng lực trong lĩnh vực nông nghiệp, an toàn thực phẩm và các ngành công nghiệp khác của chúng ta [53] chính là nhờ có một hạ tầng GDĐH đẳng cấp quốc tế. GDĐH còn tạo ra các cơ hội cho học tập suốt đời, cho phép con người cập nhật các kiến thức và kỹ năng thường xuyên theo nhu cầu của xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức về GDĐH, nhưng trong nghiên cứu của luận văn có thể hiểu GDĐH là hình thức tổ chức giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông với các trình độ đào tạo: gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.
Trên thực tế, dễ nhận thấy rằng, chất lượng đào tạo của các trường đại học ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng kinh tế và các chính sách xã hội. Và, đương nhiên, các trường đại học cũng luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường kinh tế - xã hội và các thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại. Trong nhiều thập kỷ qua, hệ thống giáo dục nước ta đang chứa đựng nhiều yếu tố bất cập, chất lượng GDĐH còn thấp, chưa đáp ứng được kỳ vọng 10 “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Vẫn biết “nhân tài là nguyên khí quốc gia”, nhưng những điều kiện vật chất nghèo nàn, cơ chế quản lý lạc hậu, đội ngũ giảng viên vừa thiếu, vừa yếu… không tương ứng với tốc độ phát triển của quy mô đào tạo chính là những nguyên nhân căn bản dẫn tới sự yếu kém của GDĐH.
Chính vì vậy, việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GDĐH là một hướng đi cần thiết để giải quyết những bất cập trên, qua đó thúc đẩy hệ thống GDĐH của nước ta phát triển. Hợp tác quốc tế hợp tác quốc tế là “một hệ thống những mối quan hệ quốc gia vốn được hình thành, xác định và dựa trên cơ sở chính trị dối ngoại của từng quốc gia, nhưng lại mang trong mình những quy luật hoạt động và phát triển riêng có của chúng”. Hợp tác bao gồm hợp tác song phương (một nước với một nước khác); Hợp tác đa phương (một nước với nhiều nước khác trong một hiệp định ký kết); Hợp tác của một nước với một tổ chức quốc tế như các tổ chức của Liện hiệp quốc, (UN), UNESCO… Cụm từ “hợp tác với nước ngoài” trong luận văn này bao gồm cả hợp tác với các nước và hợp tác với các tổ chức quốc tế. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2010, hợp tác là “cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung”, còn quốc tế là “các nước trên thế giới trong quan hệ với nhau” [49].
Như vậy, có thể hiểu hợp tác quốc tế là hành vi các chủ thể quan hệ quốc tế đáp ứng lợi ích hay nguyện vọng của nhau, không chống đối nhau. Đặc điểm cơ bản của hợp tác quốc tế là có 2 chủ thể tham gia trở lên và có sự tham gia của yếu tố quốc tế. 11 hợp tác quốc tế về giáo dục - đào tạo là một loại hình hoạt động bao gồm các hình thức phối hợp giữa các nước để cùng nhau tiến hành giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu, trao đổi các kết quả nghiên cứu, thông tin khoa học để có thể áp dụng vào thực tiễn hoạt động của nhà trường. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động hợp tác quốc tế về GDĐH với vai trò là một bộ phận của hợp tác quốc tế về giáo dụcvà hoạt động này sẽ do cơ quan quản lý nhà nước về GDĐH quản lý (Đề tài không tập trung nghiên cứu các trường hợp cụ thể về hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường đại học, học viện cụ thể.Hoạt động hợp tác này còn diễn ra trong các trường đại học với nhau như là hoạt động chủ thể thuộc một trường đại học hợp tác với chủ thể thuộc quốc gia khác nhằm mục đích đáp ứng nguyện vọng của nhau).
Chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học Giáo dục là một lĩnh vực rộng lớn trong hệ thống kinh tế - xã hội của phần lớn các nước trên thế giới. Số lượng người học, người dạy rất đông (ở nước ta số người học ở mọi loại hình giáo dục chiếm hơn ¼ dân số). Nếu tính những người liên quan đến giáo dục như gia đình, cộng đồng thì giáo dục thực sự liên quan đến mọi người trong xã hội. Các chính sách giáo dục tác động lớnđến toàn bộ xã hội.
Vì vậy những quyết định về chính sách giáo dục phải được chuẩn bị cẩn thận, dựa trên việc nắm vững những đặc điểm của chính sách trong giáo dục. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc tham gia ký kết các hiệp định của WTO và GATS đồng nghĩa với việc chấp nhận một thị trường giáo dục mở cho đầu tư nước ngoài là một bước thay đổi quan trọng về nhận thức và tư duy của các nhà làm chính sách trong việc từng bước chấp nhận những khuôn khổ quản lý mới cho khu vực dịch vụ công nói 12 chungvà cho GDĐH nói riêng. Trong bối cảnh đó các quốc gia đang phải đối mặt với vấn đề là tiếp tục duy trì chính sách quản lý theo kiểu truyền thống hay là áp dụng chính sách quản lý mới (kiểu doanh nghiệp), tức là có sự thay đổi về bản chất - chuyển từ cơ chế hành chính sang cơ chế doanh nghiệp để thị trường có thêm cơ hội điều tiết nhằm tăng năng xuất, chất lượng và hiệu quả. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra bốn mô hình quản lý trường đại học dựa trên tính chất “chặt chẽ” hay “lỏng lẻo” trong việc xác định chính sách và giám sát thực hiện.
Kiểu quản lý truyền thống là kiểu mà cả hai khâu xác định chính sách và giám sát thực hiện đều lỏng lẻo. Kiểu quản lý hành chính thì xác định chính sách lỏng lẻo nhưng giám sát thực hiện thì chặt chẽ. Kiểu quản lý nghiệp chủ thì xác định chính sách chặt chẽ nhưng giám sát thì lỏng lẻo. Kiểu quản lý công ty là kiểu mà cả hai khâu xác định chính sách và giám sát thực hiện đều chặt chẽ.
Nếu làm tốt các chính sách sẽ thucs đẩy quá trình hợp tác quốc tế về GDĐH và hoạt động này sẽ có nhưng vai trò không nhỏ trong phát triển GDĐH như: Thứ nhất, hoạt động hợp tác quốc tế có vai trò quan trọng trong việc định hướng sự phát triển của GDĐH theo hướng hiện đại, tiếp cận nền GDĐH tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Thông qua hoạt động, các chương trình hợp tác quốc tế với các nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, các trường đại học trong nước có thể rút ra các kinh nghiệm quý giá trong việc đổi mới tư duy, phương thức quản lý giáo dục, lựa chọn phương hướng, cải tiến hệ thống và quy trình đào tạo, kết hợp nghiên cứu khoa học với giảng dạy, đồng thời biết tận dụng thời cơ và lợi thế để từng bước kéo gần khoảng cách giữa giáo dục trong nước và thế giới. Ngoài ra, hoạt động này tạo điều kiện cho các trường đại học phát triển bền vững, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho việc phát triển đất nước. 13 Thứ hai, hợp tác quốc tế giúp các trường đại học thiết lập được nhiều hình thức hợp tác đa dạng, phong phú với các chương trình, dự án hợp tác đào tạo, hợp tác nghiên cứu khoa học, hợp tác song phương và đa phương.
Thứ ba, việc hợp tác quốc tế mang lại nhiều lợi ích thiết thực đối với sự phát triển của các trường đại học nói riêng và nền GDĐH của các quốc gia nói chung. Đối với sinh viên và giảng viên, hợp tác quốc tế của các trường đại học mang lại cơ hội to lớn trong việc tiếp cận nhanh chóng với nguồn tri thức quốc tế khổng lồ. Đối với các trường đại học, hoạt động hợp tác quốc tế thúc đẩy các tổ chức này cải tiến cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đào tạo để có thể thu hút được các đối tác cũng như tìm được vị thế trên thị trường quốc tế. Ngoài ra, khi hợp tác với nhau hệ thống GDĐH các nước còn có cơ hội giao lưu, học tập kinh nghiệm quản lý và trao đổi kiến thức chuyên môn trong giảng dạy đại học.
Nhờ quá trình này, các bên đều có cơ hội nâng cao năng lực quản lý cũng như trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên.