Chương 1: Các vấn đề lý luận về chính sách hỗ trợ rủi ro trong sản xuất nông nghiệp tại ngân hàng thương mại. - Chương 2: Thực trạng chính sách hỗ trợ rủi ro trong sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh tỉnh Nghệ An giai đoạn (2012 – 2016). - Chương 3: Hoàn thiện chính sách hỗ trợ rủi ro trong sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh tỉnh Nghệ An. 4 CHƢƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ RỦI RO TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp và vai trò của Ngân hàng thƣơng mại trong hỗ trợ rủi ro 1. Khái niệm và phân loại rủi ro trong sản xuất nông nghiệp 1. Khái niệm rủi ro Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về rủi ro, tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa khác nhau về rủi ro. Khái niệm rủi ro theo quan điểm truyền thống là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm.
Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Trong lĩnh vực kinh doanh rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp. Theo quan điểm hiện đại thì rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang lại những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội.
Phân loại rủi ro trong sản xuất nông nghiệp Có thể chia các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp thành một số loại chính sau đây: a. Rủi ro trực tiếp: - Thiên tai: như bão và áp thấp nhiệt đới; úng lụt; lũ và lũ quét; hạn hán; rét và ấm; động đất; mưa đá; sương muối… - Sâu bệnh, dịch bệnh. Rủi ro gián tiếp: - Đất: Đất nông nghiệp ở Việt Nam do Chính phủ quản lý. Việc quản lý này đi đôi với việc quy định về mục đích sử dụng đất.
Điều đó có nghĩa là đất được giao để trồng một loại cây nào đó thì không được sử dụng để trồng các loại cây trồng 5 khác. Vì thế có một dạng rủi ro luôn tiềm ẩn đối với nông dân là ruộng đất của họ có thể bị phân chia lại hoặc được giao trồng một loại cây khác mà họ không có kinh nghiệm. - Quản lý nguồn nước: Tình trạng thiếu nước và quản lý nguồn nước không tốt thường khiến cho các kế hoạch về mùa vụ không đảm bảo tính chắc chắn trong quá trình thực hiện. Do thiếu cả về cơ sở hạ tầng và trình độ quản lý các công trình thủy lợi nên rất dễ dẫn tới tình trạng ngập lụt do hệ thống tiêu nước kém hoặc tràn nước từ các kênh rạch và các con sông.
Mặt khác, việc cung cấp nước từ hệ thống tưới tiêu không đảm bảo có thể gây thiệt hại cho các loại cây trồng vào mùa khô. - Sử dụng phân bón: Việc lạm dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu luôn chứa đựng những nguy cơ tiềm ẩn đối với không chỉ những nông dân sử dụng mà còn đối với sức khỏe của gia đình họ và cộng đồng. - Rủi ro bảo quản: Trong quá trình thu hoạch và bảo quản nông sản, thiếu các phương tiện thu hoạch và hệ thống kho tàng bảo quản sẽ khiến cho sản lượng thu hoạch bị hao hụt, đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng của nông sản. - Sự cô lập: Rủi ro cô lập với thị trường và nguồn thông tin do chất lượng đường giao thông quá thấp cũng như hệ thống truyền hình không đồng bộ là một trong các nhân tố chính làm cản trở tiến trình tăng trưởng thu nhập và hạn chế đói nghèo ở các vùng xa xôi, hẻo lánh.
Việc cô lập này sẽ khiến người nông dân hầu như không có cơ hội để tiếp cận với các kiến thức khoa học, công nghệ tiến bộ cũng như lựa chọn thị trường đầu ra cho sản phẩm của mình. - Rủi ro tín dụng: Người nông dân vẫn còn gặp khó khăn trong việc vay các khoản tiền tương đối lớn với thời gian hoàn trả trên một năm. Điều này sẽ trực tiếp kìm hãm sự phát triển và đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp. Rủi ro thị trường: - Lạm phát: Lạm phát không chỉ đe dọa sản xuất nông nghiệp mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế.
Đối với nông dân, lạm phát sẽ làm giảm giá trị mùa màng. Lạm phát không những làm suy giảm sức mua của người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản tín dụng của nông dân. - Tăng giá vật tư nông nghiệp, thủy lợi phí: Vật tư nông nghiệp, giống, phân 6 bón, thuốc trừ sâu… là những yếu tố đầu vào hết sức quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp. Hệ thống các công trình thủy lợi, kênh mương tưới tiêu là không thể thiếu trong quá trình sản xuất.
Vì thế, khi giá của các yếu tố này cao sẽ khiến người nông dân rất khó khăn, làm cản trở việc nâng cao năng suất và chất lượng nông sản. - Mất thị trường, sụt giá nông sản: Sau khi kết thúc quá trình sản xuất, đầu ra trở thành vấn đề then chốt đối với tất cả các hộ nông dân sản xuất có tính chất hàng hóa. Do đó, việc mất thị trường truyền thống hay sụt giá nông sản sẽ làm giảm đáng kể lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất. Rủi ro khác: Ngoài những rủi ro chính nêu trên, sản xuất nông nghiệp còn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác như: rủi ro ốm đau, tai nạn và chết của nông dân; rủi ro liên quan đến máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất như trộm cắp, cháy, thiệt hại trong quá trình xây dựng, hỏng hóc máy móc; các rủi ro hỗn hợp bao gồm rủi ro về chính trị, bạo loạn, chiến tranh, nhiễm phóng xạ… 1.
Vai trò của Ngân hàng thương mại trong hỗ trợ rủi ro - Bằng các chính sách tín dụng hỗ trợ như hoãn nợ, giãn nợ, xoán nợ, ưu đãi lãi suất…, ngân hàng thương mại (NHTM) đã góp phần khắc phục các rủi ro, tổn thất trong nông nghiệp, qua đó giúp nông dân sớm khôi phục sản xuất và ổn định đời sống. - NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỉ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ mô, môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh. - Góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu. Đây là kết quả tác động nhiều mặt của đổi mới hoạt động ngân hàng, nhất là những cố gắng của ngành ngân hàng trong việc huy động các nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển, trong việc đổi mới chính sách cho vay và cơ cấu tín dụng theo hướng căn cứ chủ yếu vào tính khả thi và hiệu quả của từng dự án, từng lĩnh vực ngành nghề để quyết định cho vay.
- NHTM đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao động, góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững. Thông qua nguồn vốn 7 tín dụng cho các chương trình và dự án phát triển sản xuất kinh doanh, hàng năm hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo thêm được nhiều việc làm mới, nhất là tại các vùng nông thôn. Việc sử dụng nguồn vốn ngân hàng cho mục đích này ngày càng có tính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả, nhất là từ khi tín dụng chính sách được tác bạch với tín dụng thương mại và giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội đảm nhiệm. - Góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững.
Đóng góp này được thể hiện qua công tác thẩm định dự án, quyết định cho vay vốn ngân hàng cho các dự án và giám sát thực hiện một cách chặt chẽ sau khi cho vay, các tổ chức tín dụng (TCTD) luôn chú trọng yêu cầu các khách hàng đảm bảo an toàn và hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay, tuân thủ các cam kết quốc tế và các qui định về bảo vệ môi trường. Những vấn đề chung về chính sách hỗ trợ rủi ro trong sản xuất nông nghiệp của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm, vai trò của chính sách hỗ trợ rủi ro trong sản xuất nông nghiệp 1. Khái niệm Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm về “chính sách” nói chung và “chính sách nông nghiệp” nói riêng: a.
Khái niệm chính sách: - Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”. - Theo Frank Ellis (1995, tr.23): "Chính sách được xác định như là đường lối hành động mà Chính phủ lựa chọn đối với một lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả các mục tiêu mà Chính phủ tìm kiếm và sự lựa chọn các phương pháp để theo đuổi các mục tiêu đó".
Khái niệm chính sách kinh tế - xã hội: - Theo GS. Đỗ Hoàng Toàn (1998, tr.21): "Chính sách quản lý nói chung, chính sách kinh tế - xã hội nói riêng là tổng thể các quan điểm, các chuẩn mực, các biện pháp, các thủ thuật mà chủ thể quản lý (trong phạm vi quốc gia đó là Nhà nước) sử dụng nhằm tác động lên đối tượng và khách thể quản lý để đạt đến những mục tiêu trong tổng số các mục tiêu chiến lược chung của đất nước một cách tốt nhất sau một thời gian đã định". - Theo Paul Samuelson (2002) cho rằng phạm trù "chính sách kinh tế" được sử dụng tương đối rộng rãi với nội dung "rộng" và "hẹp" rất đa dạng, tùy thuộc vào mục tiêu cần đạt tới và đối tượng tác động của chính sách, thậm chí ngay cả khi Chính phủ không đưa ra một chính sách cụ thể nào trong bối cảnh "bất đắc dĩ", để thực hiện một ý đồ sách lược nào đó, thì đó cũng là một cách tác động của chính sách. Ông gọi đó là trạng thái " thoả hiệp" của chính sách kinh tế".
Đoàn Thị Thu Hà (2000, tr.