MỞ ĐẦU. 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN. Các khái niệm công cụ. Khái niệm khuyết tật.
Khái niệm về người khuyết tật. Chính sách xã hội. Công tác xã hội với ngƣời khuyết tật. Khái niệm vai trò.
Khái niệm hòa nhập cộng đồng. Khái niệm nhân viên công tác xã hội (NVCTXH). Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu (Cách tiếp cận trong nghiên cứu). Lý thuyết con người và môi trường.
Lý thuyết nhu cầu của A. Lý thuyết vai trò. Lý thuyết nhận thức hành vi. Đặc điểm tâm, sinh, lý của ngƣời khuyết tật.
Khái quát đặc điểm địa bàn nghiên cứu. Quan điểm của Đảng và nhà nƣớc về chính sách dành cho ngƣời khuyết tật. Luật Ngƣời khuyết tật. Đề án trợ giúp ngƣời khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020.
Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật. Các vấn đề của ngƣời khuyết tật. Kỳ thị/Phân biệt đối xử. 46 z Tiểu kết chƣơng 1.
48 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NGƢỜI KHUYẾT TẬT VÀ CÁC CHÍNH SÁCH DÀNH CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN HIỆP HOÀ,TỈNH BẮC GIANG. Nhu cầu của ngƣời khuyết tật tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Thực trạng ngƣời khuyết tật tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Về trình độ học vấn:.
Về trình độ chuyên môn. Tình trạng việc làm cho người khuyết tật. Tình trạng hôn nhân. Hoàn cảnh gia đình.
Việc triển khai chính sách dành cho ngƣời khuyết tật tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Các chính sách dành cho ngƣời khuyết tật đang dƣợc triển khai tại địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Những thuận lợi và khó khăn trong triển khai chính sách dành cho người khuyết tật tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. 65 Tiểu kết chƣơng 2.
70 CHƢƠNG 3: CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH DÀNH CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG. Hoạt động với vai trò là ngƣời biện hộ. Hoạt động công tác xã hội với vai trò là ngƣời tạo và tăng cƣờng năng lực 79 3. Hoạt động với vai trò tạo điều kiện, vai trò là nhà giáo dục.
Hoạt động tuyên truyền. 98 Tiểu kết chƣơng 3. 101 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
108 z DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ASXH An sinh xã hội BHXH Bảo hiểm xã hội BHYT Bảo hiểm y tế BLĐTBXH Bộ Lao động thƣơng binh xã hội BTXH Bảo trợ xã hội CTXH Công tác xã hội ILO Tổ chức Lao động quốc tế NKT Ngƣời khuyết tật NVCTXH Nhân viên công tác xã hội TGXH Trợ giúp xã hội UBND Ủy ban nhân dân UNICEF Qũy nhi đồng liên hợp quốc z DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1. Tỷ lệ NKT vừa và nặng trên thế giới năm 2000 và dự báo năm 2035. Nguyên nhân của khuyết tật của Việt Nam năm 2013. Các dạng khuyết tật chủ yếu ở Việt Nam.
Thái độ của cộng đồng về người khuyết tật. Bảng thống kê số lƣợng ngƣời khuyết tật chia theo giới tính tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Bảng thống kê số lƣợng ngƣời khuyết tật chia theo độ tuổi tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Bảng thống kê số lƣợng ngƣời khuyết tật chia theo mức độ tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Bảng thống kê số lượng NKT chia theo dạng khuyết tật tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Tỷ lệ NKT từ 15 tuổi trở lên phân theo trình độ học vấn tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Số lƣợng ngƣời khuyết tật biết về các chính sách dành cho ngƣời khuyết tật phân theo xã/thị trấn tại huyện Hiệp Hòa. Lý do chọn đề tài Con ngƣời khi sinh ra ai cũng mong muốn mình đƣợc mạnh khỏe, có đƣợc một cuộc sống đầy đủ, sung túc.
Nhƣng lại có những ngƣời chỉ mong mình có đƣợc một cơ thể lành lặn, có thể đi lại, sinh hoạt, học tập, làm việc nhƣ bao ngƣời bình thƣờng khác. Vậy mà những mong ƣớc đó với họ lại trở nên khó khăn vô cùng. Đó chính là những ngƣời khuyết tật. Ngƣời khuyết tật hiện nay đã không còn trở nên xa lạ khi ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh một ngƣời khuyết tật đang đi trên đƣờng phố với đôi chân không lành lặn hay bị thiếu đi đôi bàn tay mà lại đang bán những món hàng do họ tự làm.
Hoặc ở một nơi nào đó ta từng nhìn thấy một ngƣời mù mà đôi bàn tay lại vô cùng linh hoạt khi làm các sản phẩm thủ công và một ngƣời điếc lại tạo nên những bức tranh thêu rất đẹp… Nhƣ tuân theo một quy luật thông thƣờng, mỗi con ngƣời đều phải có việc làm, đều phải lao động để sinh tồn để bù đắp những khiếm khuyết, đều mong muốn đƣợc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mình. Nhƣng với ngƣời khuyết tật thì cơ hội việc làm cũng nhƣ các sinh hoạt bình thƣờng hàng ngày, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của họ lại không đƣợc rộng mở nhƣ bao ngƣời bình thƣờng khác. Chính bởi những khiếm khuyết trên cơ thể mà họ bị hạn chế và khó có cơ hội đƣợc tiếp cận và phát triển. Nhu cầu cơ bản của ngƣời khuyết tật càng trở nên cấp bách và cần thiết khi chúng ta ai cũng nhận thấy rằng họ có tiềm năng và có nghị lực, khát vọng đƣợc sống, làm việc, đƣợc học tập, đƣợc đối xử nhƣ ngƣời bình thƣờng khác nhƣ bao ngƣời.
Hiện nay, hiểu rõ nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng của ngƣời khuyết tật, Đảng và Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cho ngƣời khuyết tật. Trong đó có Luật Ngƣời khuyết tật, Đề án trợ giúp Ngƣời khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020, điều đó đã khẳng định hơn nữa việc giải quyết vấn đề chính sách xã hội cho ngƣời khuyết tật là vô cùng quan trọng. Bởi đây 1 z cũng là một trong các thành phần của xã hội, đó là nguồn nhân lực dồi dào của đất nƣớc với những đóng góp và cống hiến không nhỏ cho xã hội. Nhiều mô hình thí điểm đã đƣợc Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội triển khai về các chính sách dành cho ngƣời khuyết tật nhƣ đào tạo nghề và hỗ trợ về sản xuất cho ngƣời khuyết tật.
Ở nhiều tỉnh thành và địa phƣơng trong cả nƣớc đều thành lập Hội Ngƣời khuyết tật với mong muốn hỗ trợ cho ngƣời khuyết tật giải quyết các vấn đề khó khăn đang gặp phải và xóa bỏ sự mặc cảm, tự ti của các hội viên. Bên cạnh đó, các trung tâm nhƣ Trung tâm Sống độc lập tại Hà Nội đã có những hoạt động thiết thực nhằm giúp đỡ ngƣời khuyết tật “sống độc lập” theo đúng nghĩa… Gắn với thực tiễn tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang hiện đang có số lƣợng ngƣời khuyết tật là 3. Với sự đa dạng về dạng tật nhƣ khuyết tật vận động, khiếm thị, khiếm thính… Trong đó, không phải tất cả ngƣời khuyết đều có sự hiểu biết, hay thụ hƣởng các chế độ chính sách xã hội của Đảng và nhà nƣớc. Hơn nữa, một bộ phận cán bộ công chức các cấp, các ngành, và một bộ phận dân cƣ còn chƣa có sự nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng cũng nhƣ các chế độ chính sách xã hội mà ngƣời khuyết tật đƣợc thụ hƣởng.
Từ đó, bản thân tôi nhận thức đƣợc thực trạng việc thực hiện chế độ chính sách xã hội với nhu cầu đƣợc đáp ứng các dịch vụ, các chính sách xã hội dành riêng cho ngƣời khuyết tật tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang hiện nay là cần thiết nên tôi đã lựa chọn đề tài “Hoạt động công tác trong việc thực hiện chính sách đối với người khuyết tật trên địa bàn huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Với mong muốn, thông qua đề tài này có thể làm rõ hơn thực trạng ngƣời khuyết tật nói chung và tình hình triển khai thực hiện các cách sách xã hội dành cho ngƣời khuyết tật tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, đánh giá công tác hỗ trợ chính sách xã hội cho ngƣời khuyết tật tại đây và khẳng định vai trò trong việc đề ra các giải pháp phù hợp của Công tác xã hội với ngƣời khuyết 2 z tật. Đặc biệt, mang tới cái nhìn mới về ngƣời khuyết tật cũng nhƣ giúp cho cộng đồng xã hội dần xóa bỏ sự kỳ thị và nâng cao sự tự tin của NKT. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2.
Trên thế giới Trên thế giới hiện nay có rất nhiều ngƣời khuyết tật, với các dạng tật khác nhau, mức độ khuyết tật khác nhau và các nguyên nhân khác nhau. Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc về ngƣời khuyết tật năm 2002 đã chỉ ra rằng NKT chiếm trên 10% dân số thế giới, cuộc sống của ngƣời khuyết tật đã phần gặp khó khăn về kinh tế và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Năm 2011, trong một báo cáo của Liên Hợp Quốc (UN) và tổ chức lao động quốc tế ILO cũng đã chỉ rõ rằng có khoẳng 75% dân số thế giới (chiếm khoảng 5 tỷ ngƣời) không đƣợc hƣởng các chế độ an sinh xã hội phù hợp. Trợ lý Tổng thƣ ký Liên Hợp Quốc đồng thời là tổng giám đốc cơ quan Liên Hợp Quốc phụ trách các vấn đề về phụ nữ - Bà Michelle Buchelet cho biết: Trong suốt tập kỷ qua, nền kinh tế thế giới tăng trƣởng mạnh mẽ và tổng sản phẩm quốc nội của thế giới cũng tăng gấp 10 lần nhƣng việc tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của ngƣời dân vẫn còn hạn chế.
Bởi vậy bà Michelle Buchelet cho rằng: “Đảm bảo an sinh xã hội là thách thức cho tất cả các quốc gia. Mỗi quốc gia cần thi hành các chính sách việc làm cho phụ nữ và thanh niên”. Báo cáo của UN và ILO cho thấy, có khoảng 38% dân số thế giới (tƣơng đƣơng khoảng 2,6 tỷ ngƣời) không đƣợc hƣởng các hệ thống chăm sóc sức khỏe thỏa đáng 884 triệu ngƣời không đƣợc dùng nƣớc sạch. Thêm vào đó có khoảng 1,4 tỷ ngƣời vẫn phải sống ở mức dƣới 1,25 USD/ngày.
Báo cáo cũng đề xuất các nguồn trợ cấp xã hội cộng đồng dành cho những gia đình nghèo, trong đó bao gồm trợ cấp cho những ngƣời già cả, ngƣời khuyết tật và khoản trợ cấp dành cho trẻ em và những ngƣời thất nghiệp. Bên cạnh đó chăm sóc y tế, giáo dục, nƣớc sạch và vệ sinh dịch tế cũng nên đƣợc đảm bảo cho tất cả mọi ngƣời.