Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính sách công mang tên "Thực hiện chính sách đối với dân tộc rất ít người ở Việt Nam", mã số 934 04 02, do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Kỷ thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Văn Minh tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2024).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc điểm cơ cấu dân tộc tại Việt Nam. Cả nước có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh là đa số và 53 dân tộc thiểu số với hơn 13,38 triệu người, chiếm gần 14,6% tổng dân số. Căn cứ theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc, nhóm dân tộc rất ít người được xác định là các dân tộc có dân số dưới 10.000 người, bao gồm 16 dân tộc: Si La, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo (quy mô dưới 1.000 người); Ngái, Cống, Mảng, Bố Y, Lô Lô, Cờ Lao (dưới 5.000 người); Lự, Pà Thẻn (dưới 8.000 người); Chứt, La Ha và La Hủ (dưới 10.000 người). Thực tế còn có hai dân tộc là La Hủ và Phù Lá, dù quy mô dân số đã vượt ngưỡng 10.000 người (trên 12.000 người), nhưng do điều kiện kinh tế - xã hội còn ở mức thấp kém nên vẫn được xếp vào diện thụ hưởng hệ thống chính sách dành riêng cho dân tộc rất ít người.
Hầu hết các dân tộc rất ít người cư trú ở vùng biên cương, phên dậu, địa bàn hiểm trở, giao thông chia cắt, đối mặt với nguy cơ tụt hậu cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Các công trình nghiên cứu thực tế đánh giá các nhóm dân cư này (ngoại trừ người Ngái) là "lõi nghèo" và "tụt hậu của tụt hậu". Khoảng trống và vấn đề cốt lõi mà luận án đặt ra là: Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chương trình, chính sách bao trùm gần như mọi mặt đời sống xã hội dẫn đến tình trạng "chính sách chồng chính sách", song đồng bào vẫn đứng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế, mai một bản sắc văn hóa truyền thống, đồng hóa ngôn ngữ, suy giảm chất lượng dân số và cơ cấu cán bộ cơ sở thấp kém. Luận án đặt câu hỏi liệu nguyên nhân bắt nguồn từ việc hệ thống chính sách chưa bám sát thực tiễn và đặc trưng văn hóa tộc người, hay do khâu hoạch định thiếu vắng sự tham gia của đối tượng thụ hưởng, hoặc khâu tổ chức thực hiện chưa đồng bộ, thiếu hợp lý về lộ trình và nguồn lực.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách đối với các dân tộc rất ít người; phân tích thực trạng thực hiện chính sách giai đoạn 2011 - 2022 để rút ra các bài học kinh nghiệm; từ đó dự báo các yếu tố tác động và xác định hệ thống mục tiêu, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giai đoạn 2023 - 2030.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan, phân tích và xác định khoảng trống nghiên cứu, làm rõ hơn cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực hiện chính sách và các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách đối với dân tộc rất ít người;
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đối với các dân tộc rất ít người ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2022 và đúc rút bài học kinh nghiệm;
- Đề xuất mục tiêu và các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả hơn chính sách đối với dân tộc rất ít người giai đoạn 2023 - 2030.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các tổ chức, cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc thực hiện chính sách đối với dân tộc rất ít người trong hệ thống chính trị cấp tỉnh (Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh gồm Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên). Luận án cũng khảo sát việc thực hiện ở hệ thống chính trị cấp huyện, cấp xã tại 4 tỉnh trọng điểm (Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Quảng Bình) và mở rộng quan sát ra 6 tỉnh có đông đồng bào dân tộc rất ít người; đồng thời nghiên cứu mức độ tham gia của chính đồng bào với tư cách là chủ thể thực hiện và đối tượng thụ hưởng.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về nội dung: Luận án tập trung vào 2 lĩnh vực trọng điểm là phát triển kinh tế - xã hội và phát triển giáo dục thông qua 4 văn bản quy phạm pháp lý gồm: Quyết định số 1672/QĐ-TTg ngày 26/9/2011; Quyết định số 2086/QĐ-TTg ngày 31/10/2016; Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22/11/2010; Nghị định số 57/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017. Trình tự thực hiện của các cơ quan được giới hạn trong quy trình 5 bước: (1) Ban hành kế hoạch thực hiện chính sách; (2) Tuyên truyền về chính sách; (3) Phối hợp thực hiện chính sách; (4) Kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách; (5) Sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách.
- Về thời gian: Khảo sát thực trạng giai đoạn 2011 - 2022 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2023 - 2030.
- Về không gian: Nghiên cứu chung trên phạm vi cả nước và tập trung chuyên sâu tại 4 tỉnh đại diện cho miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ gồm Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang và Quảng Bình.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan theo 4 nhóm nội dung chính:
Thứ nhất, nhóm nghiên cứu quốc tế về chính sách đối với dân tộc thiểu số và dân tộc rất ít người:
- Đậu Tuấn Nam (2005, 2020) nghiên cứu kinh nghiệm tăng cường tính đại diện chính trị cho các dân tộc thiểu số tại Mỹ, cơ chế quản lý người bản địa thông qua luật chuyên biệt ở Canada, hội đồng địa phương tự quản tại Anh và việc thành lập Cục Phát triển cộng đồng thuộc Bộ Nội vụ Thái Lan từ năm 2013 để huy động sự tham gia của người thiểu số.
- Trần Đình Thao (2020) tổng hợp kinh nghiệm phát triển năng lực nông thôn của Trung Quốc, nông nghiệp có chọn lọc của Nhật Bản, mở rộng hạn mức tín dụng và hợp tác xã tại Hàn Quốc, trang trại gia đình tại Đài Loan và cơ chế trao quyền cộng đồng tại Indonesia.
- Lê Ngọc Thắng (2005) khảo sát cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước về công tác dân tộc: Ủy ban Dân tộc của Quốc hội Trung Quốc và quy định tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số trên 50%; Bộ Dân bản địa và Di trú tại Australia; Vụ Dân tộc thuộc Mặt trận xây dựng Tổ quốc Lào; Ủy ban Quốc gia về Dân tộc bản địa thành lập năm 1997 tại Philippines; Cục Nội vụ và Phát triển xã hội thuộc Bộ Các vấn đề xã hội tại Indonesia.
- Alfonso Castro và Erik Nielsen (2001) dẫn nghiên cứu của Deloges và Gauthier (1997) phân tích cơ chế đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giải quyết xung đột có sự tham gia của người bản địa.
- Nguyễn Bình Định (2020) phân tích chính sách bảo tồn âm nhạc cổ truyền dân tộc thông qua giáo dục và du lịch tại Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc, Thái Lan và Trung Quốc.
- Lưu Văn An (2020) khảo sát hệ thống truyền thông vùng dân tộc thiểu số tại Mỹ (hơn 3.000 tổ chức truyền thông tư nhân, sử dụng 54 ngôn ngữ), Trung Quốc (báo chí tiếng dân tộc cấp miễn phí và thiết chế nhà văn hóa làng bản), Ấn Độ (vai trò của đài phát thanh và truyền hình trong bối cảnh tỷ lệ mù chữ cao).
- Bounkhong Phouangmany (2021) tổng kết kinh nghiệm giảm nghèo tại Lào, nhấn mạnh sự lãnh đạo của Đảng, vai trò lồng ghép nguồn lực và nâng cao chất lượng cán bộ cấp cơ sở.
Thứ hai, nhóm nghiên cứu về dân tộc rất ít người tại Việt Nam:
- Nguyễn Văn Chính (2018) chỉ ra 8 đặc điểm bất lợi của các nhóm dân tộc rất ít người vùng Tây Bắc (cư trú biệt lập, suy thoái sinh thái tự nhiên, thiếu đất sản xuất, kinh tế tự cấp tự túc, lệ thuộc xã hội vào các nhóm dân tộc lớn hơn, xói mòn tri thức địa phương, nguy cơ biến mất ngôn ngữ - văn hóa, tỷ lệ tham gia thị trường thấp); công trình năm 2022 của tác giả bổ sung tri thức lịch sử, văn hóa của người Ngái.
- Vương Xuân Tình (2013) phân tích tình trạng lệch hướng trong nghiên cứu nhân học suốt 32 năm, khi phần lớn các đề tài tập trung vào các dân tộc đông dân, trong khi 12 dân tộc rất ít người chưa từng có công trình nghiên cứu riêng tại Viện Dân tộc học.
- Nguyễn Văn Mạnh (2013) nghiên cứu sự biến đổi nghi lễ vòng đời của người Chứt; Lưu Hùng (2013) thống kê còn 25 dân tộc thiếu công trình nghiên cứu chuyên biệt; Nguyễn Thị Quế Loan (2013) nêu thực trạng 6 dân tộc chưa được nghiên cứu tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên; Bùi Thị Bích Lan (2021) khẳng định sự khan hiếm của các công trình viết về các nhóm dân tộc có dân số dưới 1.000 người.
Thứ ba, nhóm nghiên cứu về thực hiện chính sách công và chính sách dân tộc:
- Về quy trình chính sách công: Học viện Hành chính Quốc gia (2019) xác định quy trình triển khai nhiệm vụ gồm 4 bước; Lê Thị Thu (2017) chia thành 7 bước; Văn Tất Thu (2016) xác định 7 nhóm năng lực thực thi; Hoàng Mạnh Tường (2020) đề xuất quy trình 5 bước; Hồ Việt Hạnh (2021) phân tích quy trình 8 bước.
- Về thực thi chính sách dân tộc: Hoàng Hữu Bình và Phan Văn Hùng (2013) xây dựng quy trình 6 bước và 3 nội dung cơ bản của tổ chức thực hiện, đồng thời chỉ rõ sự hạn chế về năng lực quản lý của cơ quan công tác dân tộc cấp tỉnh, huyện; Trịnh Quang Cảnh (2019) dẫn nghiên cứu của Thắng (2011) về tư tưởng ngại phân cấp và việc cán bộ chỉ tập trung vào chính sách dễ làm; Ngô Ngọc Thắng (2018) chỉ ra thủ tục thiếu ổn định và công tác giám sát còn hình thức; Báo cáo đề dẫn của Ủy ban Dân tộc (2019) và nghiên cứu của Nguyễn Tài Đông (2020) nêu rõ sự lúng túng trong lập kế hoạch, cơ chế từ trên áp xuống thiếu tham vấn cộng đồng.
- Về các yếu tố tác động: Đặng Kim Sơn, Thái Thị Minh và Phạm Thị Hồng (2012); Trần Đình Thao và cộng sự (2020); Nguyễn Thị Lan Anh và cộng sự (2021); Trịnh Thị Thanh Thủy và cộng sự (2020); Nguyễn Thị Giáng Hương (2020); Vũ Chung Thủy (2020); Trần Hồng Hạnh (2010); Nguyễn Duy Dũng (2018); Đào Thị Ái Thi (2020); Nguyễn Trọng Bình (2020); Nguyễn Lâm Thành (2014); Điểu K’ré (2020); Trần Minh Đức (2021).
- Về giải pháp: Khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2019), Đại sứ quán Ai Len (2019), Nhóm công tác về dân tộc thiểu số (EMWG, 2019), Action Aid (2004), Nguyễn Thị Hoài Phương (2010), Hoàng Hữu Bình (2012), Nguyễn Lâm Thành (2019, 2020), Đoàn Minh Huấn (2010), Phạm Quang Hoan (2015).
Thứ tư, nhóm nghiên cứu chuyên biệt về thực hiện chính sách đối với dân tộc rất ít người ở Việt Nam:
- Phạm Thị Phương Thái và cộng sự (2020) chỉ ra kinh phí cấp chậm, thiếu nguồn lực, cơ chế giám sát chồng chéo; Nguyễn Minh Duy (2005) khảo sát người Cống, nêu thực trạng áp đặt mục tiêu từ cấp trên; Phan Văn Hùng (2005) nghiên cứu dân tộc Rơ Măm; Nguyễn Văn Chính (2018) chỉ ra bộ máy triển khai nặng tính hành chính quan liêu và sự vắng bóng của các đánh giá tác động giữa kỳ; Nguyễn Hồng Hải (2022) nhận diện việc bảo tồn văn hóa còn mang tính hình thức; Nguyễn Ngọc Thanh (2022) đánh giá thành tựu và hạn chế về đời sống, giáo dục của các dân tộc rất ít người.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới góc độ dân tộc học, văn hóa học hoặc kinh tế học phát triển đơn lẻ, chưa có công trình nào tiếp cận toàn diện dưới góc độ khoa học Chính sách công để làm rõ quy trình thực hiện chính sách gồm 5 bước của hệ thống chính trị cấp tỉnh; chưa phân định rõ trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan ban ngành; thiếu hệ thống số liệu định lượng về mức độ đáp ứng của bộ máy hành chính cơ sở và chưa đưa ra được các giải pháp khả thi cho giai đoạn 2023 - 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về công tác dân tộc.
Cách tiếp cận và khung lý thuyết nghiên cứu:
- Tiếp cận hệ thống: Đặt việc thực hiện chính sách đối với dân tộc rất ít người trong chu trình chính sách công tổng thể (gồm hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá và hoàn thiện/bổ sung chính sách) và trong cơ cấu vận hành của hệ thống chính trị từ cấp tỉnh đến cơ sở.
- Tiếp cận đặc thù: Phân tích các đặc điểm tương đồng và khác biệt về quy mô dân số, tập quán canh tác, ngôn ngữ và cấu trúc xã hội của từng tộc người nhằm tránh sự cào bằng trong thực thi chính sách.
- Tiếp cận liên ngành: Kết hợp kiến thức khoa học chính sách công, quản trị công, luật học, dân tộc học và xã hội học.
Khung phân tích của luận án kết nối logic từ: Chủ thể thực hiện chính sách -> Quy trình thực hiện chính sách (5 bước: ban hành kế hoạch; tuyên truyền; phối hợp thực hiện; kiểm tra, giám sát; sơ kết, tổng kết) -> Thực trạng tổ chức thực hiện -> Đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân -> Bài học kinh nghiệm -> Dự báo yếu tố tác động, mục tiêu và giải pháp giai đoạn 2023 - 2030. Quá trình này chịu sự tác động đồng thời của các nhóm yếu tố khách quan (điều kiện tự nhiên, môi trường kinh tế - xã hội, văn hóa tộc người) và yếu tố chủ quan (năng lực cán bộ, nguồn lực tài chính, sự phối hợp giữa các cơ quan, mức độ tham gia của người dân).
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích văn bản và tài liệu thứ cấp: Khai thác hệ thống nghị quyết, chỉ thị của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, các báo cáo tổng kết của Ủy ban Dân tộc, các bộ, ban, ngành Trung ương và Ủy ban nhân dân các địa phương.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi (nghiên cứu định lượng): Khảo sát 380 phiếu hỏi tại 05 huyện, 10 xã thuộc 4 tỉnh (Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Quảng Bình). Định mức mỗi huyện khảo sát 75 phiếu, riêng huyện Minh Hóa (Quảng Bình) khảo sát 80 phiếu. Đối tượng trả lời phiếu hỏi là cán bộ, công chức hệ thống chính trị cấp huyện và cấp xã (bao gồm cả cán bộ là người dân tộc rất ít người).
- Phương pháp phỏng vấn sâu (in-depth interview): Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 41 người có uy tín, người tiêu biểu trong cộng đồng các dân tộc rất ít người tại 4 tỉnh khảo sát nhằm thu thập các dữ liệu định tính về tâm tư, nguyện vọng và mức độ thụ hưởng chính sách.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực chính sách dân tộc.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu kết quả thực hiện giữa các địa phương, giữa các nhóm dân tộc và so sánh mục tiêu chính sách đề ra với kết quả đạt được qua từng mốc thời gian.
- Phương pháp thống kê: Khai thác số liệu từ hai cuộc điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu số các năm 2015 và 2019 của Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê, cùng số liệu báo cáo định kỳ hàng năm của các cơ quan quản lý nhà nước.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý số liệu và tư liệu định tính theo các nhóm chủ đề để kiểm chứng các luận điểm nghiên cứu.
Nội dung chính theo từng chương
| Văn bản chính sách |
Cơ quan ban hành & Thời gian |
Địa bàn & Đối tượng áp dụng |
Mục tiêu cốt lõi |
| Quyết định số 1672/QĐ-TTg |
Thủ tướng Chính phủ (26/9/2011) |
Vùng sinh sống của 4 dân tộc: Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang |
Giảm nghèo còn 60%; trẻ em suy dinh dưỡng <30%; 70% thôn bản có hạ tầng cơ bản; 100% hộ có nhà ở theo QĐ 167/2008/QĐ-TTg; 100% thôn có chi bộ. |
| Quyết định số 2086/QĐ-TTg |
Thủ tướng Chính phủ (31/10/2016) |
194 thôn bản, 93 xã, 37 huyện thuộc 12 tỉnh có dân tộc rất ít người (giai đoạn 2016 - 2025) |
Giảm tỷ lệ hộ nghèo 7% - 8%/năm; đến năm 2025 mức sống ngang bằng vùng; 100% thôn bản có đường đi 4 mùa, điện nước, thủy lợi, nhà sinh hoạt cộng đồng. |
| Quyết định số 2123/QĐ-TTg |
Thủ tướng Chính phủ (22/11/2010) |
Trẻ em, học sinh 9 dân tộc tại 6 tỉnh (Lào Cai, Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, Nghệ An, Kon Tum) |
95% trẻ 3-5 tuổi học 2 buổi/ngày; 100% học sinh tiểu học, THCS học trường bán trú/nội trú; 100% giáo viên được bồi dưỡng; tổng kinh phí 341 tỷ đồng. |
| Nghị định số 57/2017/NĐ-CP |
Chính phủ (09/5/2017) |
Trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên các dân tộc rất ít người trên toàn quốc |
Tuyển thẳng các cấp học; hỗ trợ chi phí học tập từ 30% đến 100% mức lương cơ sở/tháng tùy cấp học và mô hình trường (bán trú, nội trú, đại học). |
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến thực hiện chính sách đối với các dân tộc rất ít người ở Việt Nam
Chương 1 tổng hợp các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế về quản trị công và chính sách dân tộc. Tác giả phân tích kinh nghiệm thực thi chính sách cho người bản địa và nhóm thiểu số tại các quốc gia như Mỹ, Canada, Anh, Thái Lan, Trung Quốc, Lào, Indonesia và Philippines; đồng thời chỉ ra tính đặc thù trong mô hình tổ chức bộ máy quản lý công tác dân tộc ở Việt Nam. Chương này cũng phân tích 8 đặc tính kinh tế - xã hội cốt lõi của các tộc người rất ít người ở vùng Tây Bắc, chỉ ra khoảng trống về mặt học thuật khi hệ thống cơ quan nghiên cứu nhân học và chính sách công còn bỏ sót nhiều dân tộc có dân số dưới 1.000 người. Trên cơ sở tổng thuật các công trình về chu trình chính sách công của các tác giả trong nước, tác giả khẳng định sự cần thiết phải kế thừa các mô hình lý thuyết để thiết kế khung nghiên cứu chuyên biệt cho nhóm dân tộc rất ít người.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách đối với các dân tộc rất ít người
Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ, khẳng định thực hiện chính sách đối với dân tộc rất ít người là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị. Nội dung chương cụ thể hóa quan điểm của Đảng qua Nghị quyết số 24-NQ/TW, Kết luận số 57-KL/TW, Kết luận số 65-KL/TW, Nghị quyết số 120/2020/QH14 và Nghị quyết số 10/NQ-CP; nhấn mạnh phong cách công tác dân vận "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân", thực hiện phương châm "nghe Dân nói, nói Dân hiểu, hướng dẫn Dân làm, làm Dân tin" và cơ chế "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".
Chương này mô hình hóa quy trình thực hiện chính sách đối với dân tộc rất ít người tại hệ thống chính trị cấp tỉnh thành 5 bước liên hoàn:
- Ban hành kế hoạch thực hiện chính sách: Thể chế hóa các quyết định, chỉ thị của Trung ương thành nghị quyết của Tỉnh ủy, nghị quyết phân bổ nguồn lực của Hội đồng nhân dân và kế hoạch thực hiện của Ủy ban nhân dân tỉnh.
- Tuyên truyền về chính sách: Cơ quan công tác dân tộc (Ban Dân tộc tỉnh, Phòng Dân tộc huyện) phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể và đội ngũ người có uy tín để phổ biến nội dung chính sách bằng các hình thức phù hợp với trình độ tiếp nhận của đồng bào.
- Phối hợp thực hiện chính sách: Phân bổ ngân sách, giao ban chủ trì và xác định trách nhiệm phối hợp giữa các sở, ban, ngành, cơ quan cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã.
- Kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách: Kết hợp giữa kiểm tra hành chính của cơ quan nhà nước, giám sát của Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội với hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và Ban Giám sát đầu tư cộng đồng.
- Sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách: Đánh giá định kỳ, rút kinh nghiệm và kiến nghị điều chỉnh cơ chế, chính sách cho phù hợp với thực tiễn cơ sở.
Chương 2 cũng phân tích 4 văn bản chính sách trọng tâm (Quyết định số 1672/QĐ-TTg, Quyết định số 2086/QĐ-TTg, Quyết định số 2123/QĐ-TTg và Nghị định số 57/2017/NĐ-CP), đồng thời làm rõ nhóm các yếu tố tác động chủ quan và khách quan đến toàn bộ quy trình thực thi.
Chương 3: Thực trạng thực hiện chính sách đối với các dân tộc rất ít người ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2022
Chương 3 phân tích thực trạng tổ chức thực hiện 4 chính sách nêu trên tại địa bàn nghiên cứu theo trình tự 5 bước của quy trình. Luận án chỉ ra những kết quả đạt được: Diện mạo hạ tầng nông thôn các thôn bản khó khăn có chuyển biến tích cực; mạng lưới trường lớp, nhà bán trú được kiên cố hóa; tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi tăng; các chính sách hỗ trợ sản xuất, giống cây trồng, vật nuôi bước đầu giúp các hộ gia đình ổn định đời sống.
Bên cạnh kết quả đạt được, luận án đánh giá sâu sắc các hạn chế:
- Khâu lập kế hoạch còn mang nặng tính hành chính từ trên xuống, chưa tham vấn đầy đủ ý kiến cộng đồng.
- Công tác tuyên truyền còn đơn điệu, chưa phát huy tối đa tiếng nói của người có uy tín và rào cản ngôn ngữ chưa được giải quyết triệt để.
- Sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện đôi lúc còn chồng chéo, phân bổ ngân sách chậm tiến độ hoặc định mức đầu tư dàn trải.
- Hoạt động kiểm tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng còn mang tính hình thức, năng lực phát hiện sai phạm ở cấp xã còn yếu.
- Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ năng lực của đội ngũ cán bộ công chức cơ sở còn hạn chế; tâm lý ỷ lại, tự ti của một bộ phận người dân; địa hình tự nhiên chia cắt và nguồn ngân sách bố trí thực tế không đáp ứng đủ tổng mức dự toán đã được phê duyệt. Từ thực trạng đó, luận án rút ra các bài học kinh nghiệm cốt lõi trong tổ chức bộ máy, phân bổ nguồn lực và phát huy dân chủ cơ sở.
Chương 4: Giải pháp thực hiện chính sách đối với dân tộc rất ít người trong giai đoạn 2023 - 2030
Chương 4 đưa ra các dự báo khoa học về bối cảnh kinh tế, xã hội, biến đổi khí hậu và tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến vùng đồng bào dân tộc rất ít người. Luận án xác định mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 theo định hướng phát triển bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc rất ít người với mặt bằng chung của vùng. Hệ thống giải pháp được đề xuất gồm:
- Hoàn thiện thể chế và quy trình thực hiện chính sách theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền cho cấp huyện, cấp xã và cộng đồng thôn bản.
- Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền chính sách; biên soạn tài liệu song ngữ hoặc truyền thông trực quan, phát huy vai trò nòng cốt của người có uy tín, già làng, trưởng bản.
- Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành, đảm bảo nguồn lực tài chính tập trung, giảm bớt thủ tục hành chính rườm rà trong giải ngân vốn đầu tư công và vốn sự nghiệp.
- Nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, thanh tra chuyên ngành, đồng thời thực chất hóa vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
- Nâng cao năng lực chuyên môn và trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác dân tộc, đặc biệt là cán bộ cơ sở người dân tộc thiểu số tại chỗ.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đối với các dân tộc rất ít người trong khuôn khổ chuyên ngành Chính sách công.
- Xây dựng hoàn chỉnh khung phân tích và quy trình 5 bước thực hiện chính sách đối với nhóm dân tộc rất ít người của hệ thống chính trị cấp tỉnh (gồm: ban hành kế hoạch; tuyên truyền; phối hợp thực hiện; kiểm tra, giám sát; sơ kết, tổng kết).
- Luận giải có hệ thống hệ thống các quan điểm chỉ đạo của Đảng, các quy định pháp luật của Nhà nước và các nhóm yếu tố tác động chủ quan, khách quan đặc thù chi phối quá trình đưa chính sách dân tộc vào cuộc sống.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh toàn diện, cập nhật về thực trạng triển khai 4 chính sách cốt lõi (Quyết định số 1672/QĐ-TTg, Quyết định số 2086/QĐ-TTg, Quyết định số 2123/QĐ-TTg và Nghị định số 57/2017/NĐ-CP) trong giai đoạn 2011 - 2022 thông qua bộ dữ liệu thực chứng gồm 380 phiếu hỏi và 41 phỏng vấn sâu tại 4 tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Quảng Bình.
- Đúc kết các bài học kinh nghiệm thực tiễn phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có căn cứ khoa học nhằm hoàn thiện quy trình tổ chức thực hiện chính sách đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2023 - 2030, phục vụ việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 theo Nghị quyết số 120/2020/QH14 của Quốc hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Địa bàn khảo sát thực địa bằng phiếu hỏi và phỏng vấn sâu mới chỉ tập trung chủ yếu tại 4 tỉnh đại diện (Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Quảng Bình), chưa thể khảo sát bao quát toàn bộ 12 tỉnh thuộc diện thụ hưởng Quyết định số 2086/QĐ-TTg hay địa bàn Tây Nguyên (nơi sinh sống của người Brâu, Rơ Măm tại Kon Tum).
- Do điều kiện địa hình hiểm trở, giao tiếp ngôn ngữ hạn chế và trình độ học vấn của người dân tộc rất ít người còn thấp, đối tượng khảo sát phiếu hỏi của luận án mới chỉ tập trung vào đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện và cấp xã, chưa thể triển khai phát phiếu điều tra đại trà tới từng hộ gia đình người dân.
- Phạm vi nội dung chính sách tập trung chủ yếu vào 2 trục phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục, chưa đi sâu khảo sát các chính sách y tế chuyên sâu, bảo tồn tri thức dân gian hay bảo vệ môi trường sinh thái rừng đầu nguồn.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát thực nghiệm sang khu vực Tây Nguyên và các tỉnh miền núi khác để so sánh sự khác biệt vùng miền trong tiếp nhận chính sách.
- Thiết kế phương pháp tiếp cận nhân học hành vi để đo lường mức độ hài lòng và năng lực tự quản của từng hộ gia đình đồng bào dân tộc rất ít người.
- Nghiên cứu cơ chế tích hợp các chính sách đơn lẻ thành một đạo luật khung hoặc nghị định thống nhất về phát triển bền vững các dân tộc rất ít người.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho:
- Cơ quan hoạch định và quản lý nhà nước: Ủy ban Dân tộc, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Ban Dân tộc cấp tỉnh, Phòng Dân tộc cấp huyện và Ủy ban nhân dân các cấp tại các địa phương có đồng bào dân tộc rất ít người sinh sống. Các cơ quan này có thể sử dụng khung quy trình 5 bước và các giải pháp của luận án để chuẩn hóa quy trình ban hành kế hoạch, kiểm tra và phân bổ ngân sách.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Thuộc các ngành Chính sách công, Quản lý công, Dân tộc học, Xã hội học và Phát triển cộng đồng. Phần tổng quan tài liệu dày dặn và khung lý thuyết thực thi chính sách là nguồn tham khảo học thuật hữu ích cho các đề tài nghiên cứu liên quan đến nhóm yếu thế và chính sách công vùng dân tộc thiểu số.
- Các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức phát triển: Mặt trận Tổ quốc các cấp, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và các tổ chức phi chính phủ nghiên cứu phần đánh giá về cơ chế giám sát cộng đồng và phát huy vai trò của người có uy tín để thiết kế các dự án can thiệp phát triển sinh kế tại cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chí xác định và danh sách các dân tộc rất ít người ở Việt Nam được luận án sử dụng là gì?
Luận án căn cứ vào Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc, xác định dân tộc rất ít người là dân tộc có dân số dưới 10.000 người, bao gồm 16 dân tộc: Si La, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo (dưới 1.000 người); Ngái, Cống, Mảng, Bố Y, Lô Lô, Cờ Lao (dưới 5.000 người); Lự, Pà Thẻn (dưới 8.000 người); Chứt, La Ha và La Hủ (dưới 10.000 người). Ngoài ra, dân tộc La Hủ và Phù Lá dù dân số đã vượt 12.000 người nhưng do hoàn cảnh kinh tế - xã hội còn ở mức thấp kém nên vẫn thuộc diện thụ hưởng chính sách này.
2. Bốn chính sách trọng tâm dành riêng cho dân tộc rất ít người được luận án phân tích gồm những văn bản nào?
Luận án tập trung đánh giá 4 văn bản quy phạm: (1) Quyết định số 1672/QĐ-TTg ngày 26/9/2011 về phát triển kinh tế - xã hội vùng các dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao; (2) Quyết định số 2086/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 phê duyệt Đề án hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số rất ít người giai đoạn 2016 - 2025; (3) Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22/11/2010 về phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010 - 2015; và (4) Nghị định số 57/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập cho trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người.
3. Quy trình thực hiện chính sách đối với dân tộc rất ít người tại hệ thống chính trị cấp tỉnh được luận án khái quát gồm những bước nào?
Quy trình gồm 5 bước liên hoàn: (1) Ban hành kế hoạch thực hiện chính sách; (2) Tuyên truyền về chính sách; (3) Phối hợp thực hiện chính sách; (4) Kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách; và (5) Sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách.
4. Dữ liệu thực địa của luận án được thu thập bằng những công cụ và dung lượng mẫu như thế nào?
Luận án kết hợp điều tra định lượng bằng bảng hỏi với 380 phiếu khảo sát cán bộ, công chức cấp huyện, cấp xã tại 5 huyện, 10 xã thuộc 4 tỉnh (Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Quảng Bình; mỗi huyện 75 phiếu, riêng huyện Minh Hóa là 80 phiếu); kết hợp phỏng vấn sâu định tính 41 người có uy tín, người tiêu biểu trong cộng đồng các dân tộc rất ít người tại 4 tỉnh nêu trên.
5. Luận án chỉ ra nghịch lý chính sách cốt lõi nào trong đời sống của các dân tộc rất ít người giai đoạn 2011 - 2022?
Nghịch lý là dù đồng bào được thụ hưởng rất nhiều chương trình, dự án đến mức "chính sách chồng chính sách" và bao trùm mọi mặt đời sống, song trên thực tế hầu hết các dân tộc này (trừ người Ngái) vẫn thuộc nhóm "lõi nghèo", đối mặt với nguy cơ tụt hậu kinh tế, mai một bản sắc văn hóa, suy giảm chất lượng dân số và kết quả của nhiều chính sách mới chỉ dừng lại ở mức tiếp tục hướng tới mục tiêu đề ra ban đầu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Kỷ là công trình nghiên cứu chuyên khảo về thực hiện chính sách đối với các dân tộc rất ít người tại Việt Nam dưới góc độ khoa học Chính sách công. Bằng việc kết hợp cách tiếp cận hệ thống, phương pháp nghiên cứu liên ngành cùng hệ thống dữ liệu thực nghiệm định tính và định lượng tại 4 tỉnh trọng điểm, tác giả đã làm rõ quy trình 5 bước tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị cấp tỉnh và chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế về hiệu quả chính sách giai đoạn 2011 - 2022. Các luận điểm, bài học kinh nghiệm và hệ thống giải pháp cho giai đoạn 2023 - 2030 mà luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ công tác quản lý nhà nước và hoàn thiện chính sách dân tộc trong giai đoạn phát triển mới.