phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được gồm có 3 chương như sau: CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRƢỚC GIAI ĐOẠN CẤM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG B.OBAMA (1947 – 2008) Chương này chủ yếu tập trung cung cấp cái nhìn tổng quát về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar từ khi chính thức đặt quan hệ đối ngoại (năm 1947) đến trước nhiệm kỳ của Tổng thống B.Obama, tức là vào năm 2008, với hai giai đoạn 1947 – 1990 và 1990 – 2008. SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRONG GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG B. OBAMA (2009 – 2014) Chương này đề cập đến sự tất yếu phải điều chỉnh chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Nam Á nói chung và Myanmar nói riêng.
Có thể kể đến sự điểu chỉnh này xuất phát từ những yếu tố bên trong nội bộ Hoa Kỳ cũng như sự thay đổi của thế giới, quan trọng là định hướng của chính quyền B.Obama và những bước phát triển 6 vượt bậc của Đông Nam Á, của Myanmar. Nội dung điều chỉnh của chính sách này chủ yếu trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị – ngoại giao và an ninh – quân sự. ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ VỀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRONG GIAI ĐOẠN TỔNG THỐNG B.OBAMA (2009 – 2014) VÀ TRIỂN VỌNG THỰC THI CHÍNH SÁCH NÀY TRONG THỜI GIAN SẮP TỚI Chương cuối cùng chủ yếu đánh giá những điều chỉnh và tổng hợp những tác động của sự điều chỉnh này của Hoa Kỳ thời Tổng thống B.Obama đối với Myanmar, với cả Hoa Kỳ. Qua đó, đưa ra những dự báo về triển vọng thực thi chính sách này ở Myanmar trong thời gian sắp tới.
Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị về đối sách của Việt Nam để cần có biện pháp kịp thời trong những năm sắp tới. 7 NỘI DUNG CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRƢỚC GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG B.1 Vài nét về Myanmar Điều kiện tư nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Myanmar là đất nước nằm ở phía Tây thuộc khu vực Đông Nam Á lục địa.
Với tọa độ 90 32’ – 280 31’ vĩ độ Bắc và 920 15’ – 1010 11’ kinh độ Đông. Myanmar có diện tích khoảng 678.500 km2 nên quốc gia này được xem là có vị trí địa chiến lược vô cùng quan trọng. Phía Bắc tiếp giáp với khu tự trị Tây Tạng và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc với chiều dài biên giới 2185 km. Phía Đông giáp Lào, Thái Lan.
Phía Nam giáp biển Andaman và vịnh Bengal. Phía Tây giáp Ấn Độ và Bangladesh. Đường bờ biển của Myanmar có tổng chiều dài 2965 km. Với vị trí này, Myanmar thuận lợi điểm trung chuyển giao lưu buôn bán qua Ấn Độ Dương.
Địa hình của Myanmar trải dài và thấp dần từ phía Bắc xuống phía Nam. Vùng phía Bắc Myanmar với nhiều đồi núi và cao nguyên nằm sâu trong lục địa ở phía Bắc, phía Đông và phía Tây của Myanmar. Vùng phía Nam Myanmar bao gồm toàn bộ vùng ven biển, những cánh rừng nhiệt đới và những vùng đồng bằng châu thổ màu mỡ được các con sông Irrawaddy, Thanlwin… bồi đắp tạo thành. Sông ngòi ở Myanmar, có Irrawaddy là con sông lớn nhất ở nước này, nó cũng là biểu tượng cho thiên nhiên giàu có và tươi đẹp của đất nước này.
Con sông Irrawaddy được hình thành do sự hợp dòng chảy của sông Malihka và sông Myahka, khởi nguồn từ vùng núi Kachin ở phía Bắc. Sông Irrawaddy chảy suốt chiều dài đất nước và có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của Myanmar. Mặt khác, nó có vai trò như huyết mạch giao thông, mà còn cung cấp lượng nước cho công trình thủy lợi, bồi đắp 260 triệu tấn/ năm phù sa cho đồng bằng châu thổ. Sự chia cắt về địa hình tạo nên sự đa dạng của khí hậu Myanmar.
Vì ảnh hưởng của gió mùa nên khí hậu ở Myanmar có hai mùa chính trong một năm – một mùa mưa và một mùa khô – và một mùa đông chuyển tiếp. Với vị trí địa lý và độ cao cũng góp phần tạo nên tính đối lập của khí hậu của quốc gia này. Khi vùng cực Nam nước này gần xích đạo nên nóng quanh năm thì vùng cực Bắc thường xuyên 8 có tuyết. Vùng đồng bằng châu thổ miền Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới nóng ẩm thì cao nguyên Shan lại chịu ảnh hưởng của khí hậu ôn đới, giá lạnh vào ban đêm.
Nhiệt độ trung bình của miền Trung cao hơn những nơi khác ở Myanmar do lượng mưa ít (dưới 1000 mm) và riêng tại cố đô Bagan kể từ thế kỷ XVIII đã diễn ra quá trình sa mạc hóa do sự can thiệp của con người. Do sự đa dạng của địa hình và khí hậu góp phần tạo cho Myanmar một hệ động thực vật đa dạng với gần 300 loài thú, 300 loài bò sát, 100 loài chim và 7000 loài thực vật. Cây gỗ Tếch là loại cây quý nhất ở Myanmar, chiếm 3/4 trữ lượng của thế giới, được phân bố tập trung nhiều ở vùng cao nguyên Shan – nơi có lượng mưa lớn trên 2280 mm. Vùng miền Nam có rất nhiều loại cây ăn quả nhiệt đới như ổi, xoài, dừa, dứa, đu đủ… Những cánh rừng được phủ xanh vùng duyên hải và ở những vùng ven biển, khu vực đảo Amanđa có rất nhiều dừa.
Vùng đồng bằng châu thổ là vựa lúa. Mặt khác, người nông dân Myanmar cũng gieo trồng nhiều loại cây công nghiệp khác như lạc, ngô, bông, đay, chè… Tài nguyên khoáng sản của Myanmar rất phong phú, đa dạng với chín loại đá quý và các loại khoáng sản khác như dầu mỏ, khí đốt, than, kẽm, thiếc… với trữ lượng lớn. Dân cư và tôn giáo. Tổng số dân của Myanmar tính đến tháng 7/2010 là 59,1 triệu người, với mật độ dân số trung bình khoảng 87 người/ 1 km2.
Tỷ lệ tăng dân số trung bình trong cả nước là 1,75%. Myanmar là quốc gia đa sắc tộc với 135 tộc người khác nhau, chủ yếu là người Miến chiếm 68% tổng số dân – sống ở các khu vực đồng bằng châu thổ sông Irrawaddy, sau nữa là người Shan chiếm 9% sống ở phía Đông Bắc và khu vực biên giới với Thái Lan, người Karen chiếm 8%, người Kachin chiếm 7%, người Rakhine chiếm 4% và 4% các tộc người khác còn lại. Phần lớn các dân tộc này chủ yếu đều di cư từ nơi khác đến và định cư tại Myanmar. Trong đó, người Môn – Khmer là những người đầu tiên di cư đến Myanmar, tiếp đến là người Tạng – Miến và người Thái Hán.
Ngoài ra có khoảng 5 triệu người nước ngoài sinh sống tại Myanmar, trong đó đông nhất là người Hoa, người Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan. Không chỉ là một quốc gia đa dang về tộc người, Myanmar còn là đất nước đa dạng về tôn giáo, bao gồm đạo Phật chiếm 89,3% số dân, Thiên chúa giáo chiếm 5,6% số dân, đạo Hồi chiếm 3,8% số dân, đạo Hindu chiếm 0,5% số dân. Còn các 9 tôn giáo khác như đạo Do Thái…chiếm khoảng 0,8% số dân. Đạo Phật được Thủ tướng U Nu tuyên bố là Quốc giáo của Myanmar năm 1961.
Những đặc điểm của Myanmar về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư và tôn giáo là yếu tố chi phối mạnh mẽ đến sự phát triển mạnh mẽ của Myanmar từ khi thành lập quốc gia thống nhất cho đến nay. Tiến trình lịch sử của Myanmar khá độc đáo dù thuở ban đầu mang nhiều nét tương đồng với các quốc gia khác ở Đông Nam Á trong nền văn hóa đá cũ, đá giữa, đá mới, đồng thau và sắt. Vào đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên, một vài tộc người đã đến định cư tại Myanmar như người Pyu, người Môn và lập nên những nhà nước sơ khai đầu tiên, đánh dấu Myanmar bước vào quỹ đạo văn minh. Vì sự đa dạng về tộc người nên lịch sử Myanmar bị chi phối mạnh mẽ bởi quá trình đấu tranh sắc tộc, đặc biệt giữa nhóm người Miến, người Môn, người Pyu, người Shan với nhau.
Cuộc đấu tranh đã làm cho người Pyu tan biến vào cộng đồng người Miến và người Môn cũng dần biến mất. Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh nội bộ từ năm này sang nay khác, một quá trình vận động hòa hợp thống nhất cũng diễn ra ngay từ đế chế Bagan đầu tiên. Do đó những khác biệt về văn hóa giữa các tộc người dần được thu hẹp và các tộc người khác nhau càng hướng đến những giá trị chung. Trong thời phong kiến, Miến Điện được xem là một đế quốc ở Đông Nam Á.
Vua Miến Điện thuộc mỗi triều đại đều thích chinh phục các lãnh thổ láng giềng và để khẳng định quyền lực của mình. Vì thế, mục tiêu thống nhất đất nước không những không được thực hiện mà còn nổi lên những cuộc nổi dậy đậm màu sắc tộc, đất nước bị chia cắt và bị xâm lược. Chính sách chia để trị của thực dân Anh đã làm sâu sắc thêm sự chia cắt đó mà hậu quả vẫn dai dẳng đến ngày nay. Từ khi cuộc đấu tranh đòi thực dân Anh trao trả độc lập thành công đến nay, người Myanmar đã không ngừng cố gắng tìm kiếm một cách thức phát triển và mô hình nhà nước phù hợp với đặc điểm của quốc gia này.
Lịch sử hiện đại Myanmar dù có lúc chậm lại nhưng vẫn theo kịp xu hướng phát triển chung của nhân loại. Hiện nay, Myanmar được chia thành 7 bang (gồm có: bang Chin, bang Kachin, bang Kayin, bang Kayah, bang Mon, bang Rakhine và bang Shan) và 7 vùng hành chính (gồm có: vùng Ayeyarwady, vùng Bago, vùng Magway, vùng Mandalay, vùng Sagaing, vùng Tanintharyi và vùng Yangon). Các vùng hành chính được chia 10 nhỏ tiếp thành các thành phố, khu vực và các làng. Các thành phố lớn được chia thành các quận.
Ngoài ra, các bang của Myanmar lại được chia thành các huyện, trong đó bang Shan có nhiều huyện (với 11 huyện), bang Chin, bang Mon và bang Kayah chỉ có hai huyện ở mỗi bang.2 Khái quát chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn 1947 – 1990 Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình thế giới từng bước có những chuyển biến to lớn, tác động đến quan hệ quốc tế, từng nước, từng khu vực và đến cả trật tự mới được thiết lập. Mặt khác, thông qua phân tích bối cảnh thế giới, Hoa Kỳ có thể hoạch định chính sách đối ngoại phù hợp cần có sự cân nhắc và kết hợp với tình trạng trong nước nhằm đạt được mục đích xuyên suốt của quốc gia trong tương lai.