CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TO TÁC ĐỘNG TỚI CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐÓI VỚI INDONESIA NHỮNG NĂM 1993 - 2008 1.1 Bối cảnh sau chiến tranh lạnh.1 Tình hình thế giới và khu vực Đông Nam Á sau Chiến tranh lạnh.1 Tình hình thế giới. Tháng 12/1989, những người đứng dau hai nước Xô — Mỹ đã gặp nhau tại Manta tuyên bố cham dứt Chiến tranh lạnh. Sự sụp đỏ của Liên Xô và thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu đã chấm dứt sự tôn tại của trật tự hai cực Ianta. Khối Vacxava cũng bị tan rã.
Nền chính trị thế giới có những thay đổi sâu sắc. So sánh lực lượng trên bình diện toàn cầu từ chỗ cân bằng giữa hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập nay chuyền sang trạng thái mat cân bằng. Mỹ trở thành siêu cường duy nhất — cả về chính trị, kinh tế va quân sự. Mỹ có điều kiện thuận lợi đẻ tính toán theo đuôi những lợi ích quốc gia một cách quyết liệt và tự tin hơn.
Chính quyền Mỹ nhận định đã đến lúc Mỹ phải vươn lên trở thành người lãnh đạo duy nhất của thế giới, Mỹ cho rằng: “Sự lãnh đạo và can dự của Mỹ vào công việc thể giới có ý nghĩa quan trọng đổi với an ninh của Mỹ, nhờ sự lãnh đạo và sự can thiệp đó mà đất nước chúng ta và ca thể giới cảm thấy an ninh và thịnh vượng hon” [66. Mặc dù có ưu thé vượt trội về nhiều mặt nhưng Mỹ cũng suy yếu tương đối sau một thời gian đài chạy đua trong Chiến tranh lạnh. Thâm hụt thương mại ngày càng tăng, thất nghiệp, bat công xã hội. biểu tinh, bãi công tăng lên nhanh chóng.
là những vấn đề kinh tế nan giải mà Washington phải giải quyết. Trong khi Mỹ đang gặp phải rất nhiều khó khăn thời hậu Chiến tranh lạnh thì các nước đồng minh đang có những bước chuyển mình, tích cực mở rộng và phát huy ảnh hưởng của minh, dan trở thành đối thủ của Mỹ: địa vị ngày cảng quan trọng của Nhật Bản, sự lớn mạnh của EU, sự tái khăng định vị thể của nước Nga, sự trỗi đậy nhanh chóng của Trung Quốc, sự vươn lên của Án Độ. ASEAN cũng từng bước khăng định vị trí của mình trên trường quốc tế. Điều nay cho thay, trong một thé giới “nhdt siêu, da cường”, các cường quốc không chấp nhận sự chỉ phối của Mỹ mà muốn có được vị thế xứng đáng bang cách củng cô tiềm lực quân sy, tăng cường hợp tác và phát triển kinh tế.
Xu thé phat trién của trật tự thé giới trong tương lai là tiễn tới một hệ thống đa cực, bởi lẽ nhìn trên bình điện toàn cầu, một quốc gia, dù là siêu cường duy nhất cũng không có khả năng kiểm soát thực tế toàn bộ các lĩnh vực của đời sông quốc tế. Sự phụ thuộc lần nhau giữa các quốc gia trong ky nguyên toàn cầu hoá khiến cho Mĩ không thé va không đủ khả năng thiết lập một trật tự đơn cực mà phải dựa vào các cường quốc khác và các tô chức quốc tế, trong đó quan trọng nhất là Liên Hợp Quốc. Kinh tế trở thành nhân tô quyết định trong sức mạnh tông hợp của các quốc gia và trở thành động lực chính của xu thế khu vực hóa và toàn cầu hoá. Trong bối cảnh sự phát triên như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ.
các quốc gia đều nhận thay van dé cấp bách hang đầu là phải ra sức tận dụng mọi nguôn lực bên trong và bên ngoài dé phát triển kinh tế. Cách đặt van dé vẻ an ninh, quốc phòng và kinh tế về cơ bản đã khác so với thời kỳ chiến tranh lạnh. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia không còn tuỳ thuộc vào sức mạnh quân sự, chính trị mà sức mạnh kinh tế nôi lên hàng đầu va trở thành trong điểm. Đồng thời, làn sóng tập hợp các quốc gia trong các tổ chức khu vực địa lý, từ tiêu khu vực đến đại khu vực thành những khu vực mậu dịch tự do đang diễn ra đồn đập ở hau khắp các châu lục, thậm chí liên châu lục.
Trào lưu nhất thé hoá khu vực phát triên mạnh trong thập niên 90, sẽ tiếp tục gia tăng cả về lượng và về chất trong những năm đầu the ky XXI, cùng với quá trình toàn cau hoá sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực của đời sống quốc tế. Mặt khác, Chiến tranh lạnh kết thúc, đồng thời là giảm thiểu sự đối đầu vẻ ý thức hệ, xu thế đối thoại được thay thế, nhưng môi trường an ninh quốc tế vẫn chưa hoàn toàn ồn định, nó chứa đựng nhiều bat ngờ và không chắc chắn, phát triển theo hướng phức tạp và đa dạng. Kha năng xảy ra chiến tranh thế giới bị đây lùi, song hàng loạt các mâu thuẫn, nguy cơ đe đọa an ninh quốc gia, khu vực bắt đầu trỗi đậy. Phần lớn những tranh chấp, mâu thuẫn này đều có căn nguyên lịch sử của nó, nên việc giải quyết không thể nhanh chóng và dé dang.
Tuy nhiên, những xung đột này khó có khả năng lan rộng. lôi cuốn sự đối đầu trực tiếp của các nước lớn. chủ yếu là do các nước lớn này có lợi ich lâu đài và cơ bản trong việc duy trì hòa bình dé phát triển kinh tế. Đó là những tranh chấp lãnh thô, xung đột tôn giáo, tranh giành tài nguyên, nôi bật là nguy cơ phô biến vũ khí hạt nhân và chủ nghĩa khủng bố.
Vũ khí hạt nhân được một số nước coi là một trong những thước đo về sức mạnh quân sự, làm con bài mặc cả trên bàn đàm phán. Vì thé, sở hữu vũ khí hạt nhân là mục tiêu của không ít quốc gia, bất chấp nỗ lực ngăn chặn của cộng đông quốc tế. Ngoài ra, nguy cơ bị tan công khủng bồ day lên những lo ngại về an ninh của tat cả các quốc gia. Trên thực tế, khủng bố quốc tế ngày càng trở thành mối nguy cơ lớn đối với an ninh và ôn định của thé giới.
Các tô chức khủng bố quốc tế ngày cảng lan rộng, từ châu Mỹ đến châu Phi. từ châu Âu đến châu Á. Mục tiêu khủng bố trở nên đa dang hơn, bat ngờ hơn và thiệt hại cũng lớn hơn. Điều này sẽ giúp giải thích tại sao các nước lớn không đẻ ra chính sách rõ rang mà chỉ có thé đưa ra một chiến lược tông thé cho giai đoạn này.
Thêm vào đó những vẫn đề mang tính chất những vẫn đề an nỉnh phi truyền thong như tội ác có tô chức, ô nhiễm môi trường, buôn bán ma túy và căn bệnh thé ki AIDS. đang trở thành mỗi quan tâm lớn của chung cho tat ca các quốc gia và đòi hỏi hợp tác toàn cầu mới có thê giải quyết được. Tình hình đó đặt ra cho mỗi quốc gia trên thế giới phải có cách nhận thức đúng và kịp thời để hoạch định một chính sách đối ngoại phù hợp với trảo lưu chung của thé giới, đồng thời nâng cao vị thé của mình trên trường quốc tế. Điều nảy càng quan trọng với Mỹ - nước có vai trò chi phối tình hình thé giới sau Chiến tranh lạnh.
Bên cạnh đó, khả năng xung đột quân sự vẫn còn tiềm ân và sẵn sàng bùng phát néu không có sự giải quyết hai hòa, hợp ly mà trong đó phụ thuộc rât lớn vào Mỹ - cường quôc sô một sau chiên tranh.2 Tình hình Đông Nam Á. Những biến đổi đã nêu trên là những nhân tố tác động trực tiếp đến khu vực Đông Nam Á. Chiến tranh lạnh kết thúc, điện mạo chính trị của Đông Nam Á thay đôi, sự đối đầu về ý thức hệ tôn tại hơn 40 năm đã không còn mang ý nghĩa chi phối khu vực. Đối với châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng, đây thực sự là giai đoạn đánh dấu nhiều biến đôi sâu sắc của tinh hình khu vực.
Tình hình an ninh - chính trị nhìn chung được cải thiện, đặc biệt khi van dé Campuchia đi đến giải pháp toàn diện. Các nước Đông Nam A có điều kiện xích lại gần nhau, cùng hợp tác và hội nhập. Từ một điểm nóng trong cuộc đối đầu gay gắt giữa Liên Xô và Mỹ và là nơi tập trung các mâu thuẫn của trục tam giác chiến lược Mỹ - Xô - Trung thời kì Chiến tranh lạnh, Đông Nam Á nhanh chóng trở thành nơi hội tụ những nỗ lực hợp tác giữa các nước trong khu vực và với bên ngoài. ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) lần lượt đã đưa ra hàng loạt các sáng kiến mới nhằm thích ứng với sự gia tăng của toàn cầu hóa và thay đôi quyên lực trên thế giới.
Mặt khác, khi Chiến tranh lạnh kết thúc, nền kinh tế thé giới lâm vào cuộc suy thoái trầm trọng từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai thì Đông Nam Á van là một khu vực phát triển nang động và duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao (vào khoảng 7%). Tính năng động thẻ hiện rõ nét trong nỗ lực của các nước khu vực sớm tìm kiếm những hình thức, cơ chế hợp tác, liên kết với nhau trước sự phát triển của xu thé quốc tế hóa và toàn cầu hóa. Theo đó, ASEAN đã được thành lập năm 1967 với năm thành viên là Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philippins, Singapore và trong quá trình phát trién, Bruney (1984), Việt Nam (1995), Lào, Mianmar (1997), Campuchia (1999) lần lượt trở thành thành viên, góp phần tăng cường vị trí chiến lược của Đông Nam A. Cùng với tốc độ tăng trưởng cao, dong vốn đầu tư vào các nước trong khu vực cũng tăng lên.
ASEAN đang là miền đất được các công ty xuyên quốc gia quan tâm do có tốc độ tăng trưởng cao và môi trường dau tư ngày càng được cải thiện. Cuộc khủng hoảng tai chính, tiền tệ nô ra giữa năm 1997 tuy gây ra chan động nặng nè đối với kinh tế Đông Nam A, nhưng sự kiên định đi theo đương lối mở cửa và tiễn hành những cải cách cần thiết, các nén kinh tế ở đây phục hồi tương đối nhanh vẫn tiếp tục duy trì niềm tin cho các nha đầu tư quốc tế vẻ triên vọng phát triển của kinh tế khu vực và vị thé của ASEAN trong nên kinh tế thé giới. Sự phát triển của các nước Đông Nam A đang làm thay đôi vai trò. vị tri của nó trên trường quốc tế.
Khu vực nay ngày càng trở nên quan trọng hơn không chỉ xét về góc độ địa - chính trị và địa - lich sử, văn hóa đối với thế giới. Cũng do vậy, các nước lớn thực hiện nhiều bước điều chỉnh quan trong chính sách đối với khu vực này.