Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGÀNH THANH TRA 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của nhân lực ngành Thanh tra 1. Khái niệm cán bộ, công chức Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [29, tr. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [31, tr.
Theo khái niệm trên, cán bộ là người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh và cán bộ làm việc theo nhiệm kỳ, có nghĩa là việc bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh trong khoảng thời gian nhất định. Đối với công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan, có nghĩa là người đó phải qua thi tuyển, tuyển dụng công chức, bổ nhiệm vào ngạch chức vụ, chức danh, có quyết định tuyển dụng và quyết định bổ nhiệm vào ngạch của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: chuyên viên, Thanh tra viên… 10 Luan van 1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những hoạt động quan trọng của phát triển nhân lực nói chung và phát triển nhân lực ngành Thanh tra nói riêng. Đây là nhiệm vụ thường xuyên có ý nghĩa quan trọng góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng công tác và hiệu quả làm việc của CBCC [3, tr.
Theo từ điển Tiếng Việt “Đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”; “Bồi dưỡng là làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng thêm” [59, tr. Đào tạo CBCC là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau cho CBCC phù hợp với yêu cầu giải quyết công việc được giao có chất lượng, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBCC thực hiện [16, tr. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2000, Tập 1: Đào tạo là “quá trình tác động đến con người, nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận được một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” [17, tr. Trong khi đó, theo Phạm Thị Hiền Thảo (2016) cho rằng đào tạo là một hoạt động có mục đích, có tổ chức được thực hiện theo những quy trình nhất định nhằm truyền đạt cho người học hệ thống kiến thức, kỹ năng phù hợp nhất định; bên cạnh đó bồi dưỡng được hiểu là quá trình gia tăng, bổ sung, cập nhật thêm những kiến thức mới, kinh nghiệm thực tiễn, phẩm chất nghề nghiệp nhằm giúp người học hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao.
Đào tạo bồi dưỡng CBCC là quá trình tổ chức học tập cho đội ngũ CBCC nhằm trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc giúp họ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao [40, tr. 11 Luan van Đào tạo, bồi dưỡng CBCC Thanh tra là hoạt động nhằm tổ chức truyền tải kiến thức, kỹ năng đến với CBCC Thanh tra góp phần xây dựng, phát triển đội ngũ, nâng cao năng lực của đội ngũ CBCCC Thanh tra. Thông qua công tác ĐTBD CBCC Thanh tra được nâng cao kiến thức về lý luận chính trị, quản lý Nhà nước và chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ được giao được hiệu quả [37, tr. Như vậy, có thể hiểu đào tạo là quá trình trang bị những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thích hợp để người được đào tạo có thể đảm nhận được một công việc nhất định; bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ giúp CBCC thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Tuy đào tạo và bồi dưỡng là hai khái niệm độc lập, nhưng đều nhằm mục đích chung là làm cho người được ĐTBD có trình độ chuyên môn, khả năng xử lý công việc và năng lực công tác tốt hơn. Thực tế có một số hoạt động ĐTBD rất khó phân chia ranh giới một cách rạch ròi. Để thực hiện nhiệm vụ, mỗi CBCC Thanh tra cần phải được trang bị kiến thức cơ bản về trình độ lý luận chính trị, quản lý Nhà nước, kỹ năng, nghiệp vụ và thường xuyên được cập nhật thông tin liên quan đến hoạt động của ngành, lĩnh vực mà mình công tác. Để đáp ứng yêu cầu đó, công tác ĐTBD được sử dụng như một cầu nối để thực hiện có kế hoạch quá trình truyền thụ khối lượng kiến thức, kỹ năng đến CBCC thanh tra.
Từ phân tích trên, trong khuôn khổ đề tài học viên sử dụng thống nhất khái niệm ĐTBD để chỉ một công chức tham gia một khóa học để nâng cao kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong thực thi công vụ, nhiệm vụ không kể thời gian dài hay ngắn. Khái niệm về chính sách công Nhà nước là chủ thể quản lý xã hội, sử dụng quyền lực do nhân dân trao quyền nhằm quản lý xã hội, phục vụ sự phát triển chung của đất nước. Nhà nước sử dụng nhiều công cụ nhằm thực hiện chức năng của mình trong đó một công cụ quan trọng chính là chính sách. Cho đến nay, đã có nhiều 12 Luan van cách tiếp cận khác nhau về chính sách công như: B.
Guy Peters (năm 1990) định nghĩa: Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân. Quan niệm này của B. Guy Peters đã bổ sung thêm một khía cạnh quan trọng của chính sách công, đó là tác động của chính sách công đến đời sống của mọi người dân hay cộng đồng xã hội, thay vì tác động lên một cá nhân hoặc một tổ chức cụ thể [49]. Có thể hiểu, chính sách công là chính sách của Nhà nước, của Chính phủ ban hành, là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước [25, tr.
Trong khi đó, tác giả Bùi Thị Cần cho rằng chính sách công là tập hợp những quyết định có liên quan với nhau, do Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện nhằm giải quyết vấn đề đặt ra theo định hướng chính trị của Nhà nước; đồng thời để cụ thể hóa Nhà nước cần tiến hành thực thi chính sách công là quá trình Nhà nước và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách và tổ chức thực hiện chúng nhằm thực hiện mục tiêu chính sách công [5, tr. Việc thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các quy định, thủ tục, chương trình hoặc dự án và thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công [18, tr.335]; thực thi chính sách công còn được hiểu là giai đoạn biến các ý đồ chính sách thành những kết quả thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nhằm đạt tới những mục tiêu đã đề ra [27, tr.123], hay là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm thực hiện hóa nội dung chính sách công một cách hiệu quả [19, tr. Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị của Nhà nước nhằm vạch ra những định hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý đối với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy và quản lý sự 13 Luan van phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước. Khái niệm chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của Đảng chính trị cầm quyền [58, tr.
Bên cạnh đó, theo Phạm Thị Thoan cho rằng chính sách ĐTBD CBCC là tổng thể những quan điểm, thái độ, quyết định, quy định của Nhà nước với các giải pháp, công cụ cụ thể về ĐTBD CBCC góp phần xây dựng đội ngũ CBCC có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước [20, tr. Nhìn chung, pháp luật đã có những quy định khá rõ ràng, cụ thể trong vấn đề ĐTBD CBCC tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động diễn ra trong khuôn khổ quản lý của Nhà nước góp phần quan trọng trong thực thi công vụ của công chức. Trong nghiên cứu này, học viên tiếp cận theo quan điểm của tác giả Phạm Thị Thoan để phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ĐTBD CBCC Thanh tra cấp huyện ở tỉnh An Giang. Khái niệm về nhân lực ngành Thanh tra Để hiểu nghĩa chung nhất về khái niệm nhân lực ngành Thanh tra, trước tiên cần hiểu rõ khái niệm về thanh tra.
Theo Luật Thanh tra năm 2010 quy định “Thanh tra nhà nước” là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm: Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Thanh tra tỉnh), Thanh tra Sở, Thanh tra huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh (Thanh tra huyện).