Chương 1: Chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII). Trong chương này, tác giả chủ yếu trình bày khái quát về chính sách của các triều đại phong kiến Việt Nam đối với các dân tộc trên toàn lãnh thổ nước ta lúc bấy giờ. Chương 2: Chính sách dân tộc của triều Nguyễn ở Nam Bộ. Tác giả đã trình bày sơ lược về lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ cũng như công đồng cư dân ở vùng đất này.
Đi sâu tìm hiểu về các chính sách cụ thể đối với các dân tộc ở Nam Bộ như dân tộc Khmer, người Hoa và một số dân tộc khác. Đồng thời rút ra một số nhận xét, đánh giá và tác động của chính sách của nhà Nguyễn đối với các dân tộc của nhà Nguyễn. -6- CHƢƠNG 1 CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM (từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII) 1. Khái niệm dân tộc Dân tộc là sản phẩm của một quá trình lâu dài của xã hội loài người.
Trước khi xuất hiện, loài người trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc. Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất: Một là, dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt ch và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc. Với nghĩa này, dân tộc là một bộ phận của quốc gia – quốc gia nhiều dân tộc. Hai là, dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh th , quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống, văn hóa và truyền thống đấu tranh chung suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước.
Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó – quốc gia dân tộc. Với đề tài này, ta đi tìm hiểu dưới gốc độ dân tộc là một bộ phận của quốc gia. Chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế ỷ XVIII) 1. Chính sách dân tộc của nhà nƣớc thời Ngô, Đinh, Tiền Lê Năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, xây dựng vương triều phong kiến đầu tiên, đưa nước ta bước vào một thời kỳ mới - thời kỳ phong kiến.
Tình hình chính trị - xã hội của nước ta thời kỳ này chưa được ổn định, vì vậy, những chính sách đối với các dân tộc của triều đình hầu như là chưa được định hình và chưa rõ ràng. Có chăng, chỉ là những việc làm cụ thể, cứng rắn mà triều đình đề ra để răn đe nhân dân. Năm 968, Vua muốn dùng uy chế ngự thiên hạ, bèn dặt vạc lớn ở sân triều, nuổi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: “kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn” [19; 59]. -7- Năm 980, nhà Tiền Lê được thành lập, đất nước được sống trong cảnh thanh bình.
Triều đình đề ra những chính sách đối nội, đối ngoại phù hợp, trong đó, có thể chính sách đối với các dân tộc đã được đề cập đến. Nhưng chưa có tài liệu nào ghi chép một cách cụ thể về những chính sách của nhà Tiền Lê đối với dân tộc. Nhìn chung, trong bối cảnh triều đình phong kiến mới xây dựng, nhà Tiền Lê phải nhiều lần đưa quân đánh dẹp sự nổi dậy của các tộc người thiểu số. Năm 999, nhà Vua thân đi đánh và dẹp được Hà Động, “bốn mươi chín động vùng Hà Đông đều được dẹp yên cả”.
Năm 1001, tên dân tộc Mán là Cử Long làm phản, nhà vua đích thân đi đánh và dẹp được phản loạn. Vua thân đi đánh giặc Cử Long. Quân giặc thấy nhà vua, chúng giương cung nhắm bắn thì tên rơi, lại giương cung thì dây đứt, tự lấy làm sợ mà rút lui. Vua bèn đi thuyền vào Cùng Giang để đuổi.
Giặc bày trận hai bên bờ chống lại, quan quân bị hãm ở giữa sông, vua cũ [nhà Đinh] là Vệ Vương Toàn trúng tên chết tại trận. Vua kêu trời ba tiếng rồi thúc quân đánh, giặc tan vỡ ”. Dưới thời vua Lê Long Đĩnh nắm quyền, chính sách cương đối với dân tộc được thực hiện một các nhanh chống và rất dã man. Năm 1008, Vua thân đi đánh hai châu Đỗ Lương, Vị Long, bắt được người Man và vài trăm con người, sai lấy gậy đánh, người Man đau quá kêu gào, nhiều lần phạm tên huy của Đại Hành, vua thích lắm.
Lại tự làm tướng đi đánh Hoan Châu và châu Thiên Liễu, bắt được người thì làm chuồng nhốt vào rồi đốt” [19; 76]. Như vậy, trong giai đoạn đầu của nền tự chủ, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê đã có những chính sách đối với các dân tộc. Chính sách thể hiện cứng rắn để chế áp, bắt buộc các tù trưởng phải phục tùng. Chính sách dân tộc của nhà nƣớc thời Lý - Trần Chính sách nhu viễn Năm 1009, nhà Lý được thành lập.
Sự kiện này đánh dấu bước khởi sắc của chính quyền phong kiến Việt Nam, đưa đất nước ta bước vào một thời kỳ phát triển mới. Trong giai đoạn đầu, việc tiếp cận đến những vùng đất sinh sống của DÂN TỘC của triều đình vẫn còn gặp nhiều khó khăn, ở đây, tù trưởng luôn là một trong những người có thế lực lớn trong nhân dân. Nhà Lý vẫn để các tù trường tự cai -8- quản địa phương theo luật tục, chính quyền trung ương ràng buộc họ bằng những chính sách, biện pháp mềm mỏng để lôi kéo họ, nhắm thắt chặt mối đoàn kết quốc gia dân tộc, mở rộng ảnh hưởng của triều đình lên vùng núi biên giới [39; 19]. Đối với vùng biên giới phía Bắc, nơi có nhiều thành phần dân tộc cùng sinh sống, khu vực có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh đối với cả nước, nhà Lý luôn dành cho nơi đây sự quan tâm đặc biệt và có những chính sách phù hợp với Man dân.
Nhằm mục đích duy trì ảnh hưởng của mình đến các khe động ở khu vực tây Tả Giang (Quảng Tây - Trung Quốc) và biên giới ráp gianh với Quảng Đông, các vua Lý đã đưa ra chủ trưởng chủ động kết thân với các tù trưởng, động trưởng, các dòng họ lớn từng thống trị ở địa phương bằng cách ban chức tước cao cho người thủ lĩnh của họ. Vua Lý ban châu mục cho Giáp Thừa Quý ở Lạng Châu, phiên thần tin cậy nhất trấn giữ nơi quan yếu, đây là khu vực gần với kinh kỳ và nằm trên con đường bộ từ Tống sáng nước ta. Họ Giáp được phép nối đời làm châu mục vùng Lạng Châu (Bắc Giang và nam Lạng Sơn). Vi Thủ làm thủ lĩnh châu Tô Mậu (Lạng Sơn).
Hoàng Kim Mãn – thủ lĩnh Môn Châu (Đông Khê). Nùng Tồn Phúc làm thủ lĩnh châu Thảng Do (Cao Bằng). Năm 1043, Nùng Trí Cao được phong thái bảo – là một trong các chức vụ cao nhất trong quan chế triêu Lý [39; 19]. Nhà Lý rất tin tưởng và giao cho các châu mục trực tiếp quản lý công việc quân và dân sự, điều này được thể hiện trong sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”: “ Thời bấy giờ không đặt trấn tiết trấn, các việc dân sự và quân sự ở các châu đều được do châu mục cai quản.
Các châu miền thượng du lại giao cho các tù trưởng địa phương quản lĩnh” [24; 306]. Hiểu rõ được quyền lực của các tù trưởng thiểu số, triều đình đã tìm cách thiết lập mối quan hệ thân thiết với họ. Do đó, chính sách cơ bản của triều Lý là cũng cố quốc gia thống nhất bằng cách ra sức tranh thủ các tù trưởng để qua họ thắt chặt khối đoàn kết dân tộc và mở rộng ảnh hưởng của triều đình lên vùng biến giới [39; 20]. Một trong những việc làm để thực hiện chính sách đó là nhà Lý thường gả công chúa và phong tước cho các tù trưởng.
Điều này thể hiện rõ quan điểm của nhà Lý đó là đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của dòng họ, lấy hôn nhân để cũng cố biên thùy. Lạng Châu phía nam ải Chi Lăng “Chủ động tên là Giáp Thừa Quý lấy con gái của Lý Công Uẩn rồi đổi ra -9- họ Thân. Con Thừa Quý là Thiệu Thái lấy con gái Đức Chính (Lý Thái Tông), con Thiện Thái là Cảnh Long lại lấy con gái Nhật Tôn (tức Lý Thánh Tông)” [39; 20]. Với việc hợp thức hóa quan hệ bằng con đường hôn nhân, nhà Lý đã gắn kết các tù trưởng thiểu số trong quan hệ thân thích, biến họ trở thành những quan chức thân cận của triều đình.
Ngoài ra, triều đình còn cho xây dựng những điểm làm trạm nghĩ chân cho các tù trưởng m i khi họ về kinh đô như đặt trấn Vọng Quốc và bảy trạm Quy Đức, Tuyên Hóa, Thanh Bình, Vĩnh Thông, Cảm Hóa, An Dân. Việc hợp thức hóa mối quan hệ hoàng tộc, vua – quan đã vô hình chung bắt buộc các tù trưởng thiểu số phải phục tùng nhà nước về mọi mặt, trong đó có kinh tế. Theo đó, vua Lý đã ấn định các loại lệ thuế như sau: Tiền chằm hồ ruộng đất; Tiền và thóc về bãi dâu; Sản vật ở núi nguồn, các phiêu trấn; Mắm muối vận chuyển qua các biên ải; Sừng tê, ngà voi và các hương liệu của người Man; Các thứ gỗ và hoa quả ở đầu nguồn [14; 243]. Đặc biệt, nhà Lý khẳng định chủ quyền lãnh thổ quốc gia tuyệt đối với những vùng đất này bằng chính sách thuế cống và khai thác tài nguyên.
Theo Đại Việt sử ký Toàn thư: Vào năm 1013, triều đình đưa ra lệ thuế, trong đó yêu cầu m i cư dân miền núi phải cống nạp những sản vật địa phương cho nhà nước theo định kỳ. Năm 1039, động Vũ Kiến châu Quảng Nguyên dâng khối vàng sống nặng 112 lạng. Các bộ lạc Ngưu Hồng ở thượng lưu sông Đà và Ai Lao dâng vàng bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi và các thứ thổ ngơi (1067), thủ lĩnh Tây Nông là Dương Tuệ dâng khối vàng sống trường thọ (1127). Nhờ vào những chính sách trên, triều đình luôn yên tâm về vùng trung du, biên giới phía Tây và Tây Bắc khi lòng dân đều một lòng hướng về nhà vua.
Năm 1226, nhà Trần thiết lập. Sau khi lên ngôi, vua Trần đã tiếp tục sử dụng hôn nhân chính trị để kết thân với các tộc trưởng thiểu số.