Chương 1: Đảng bộ huyện Thanh Sơn lãnh đạo việc thực hiện chính sách dân tộc – Cơ sở lý luận và thực tiễn - Chương 2: Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Thanh Sơn từ khi chia tách huyện đến năm 2014 - Chương 3: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH SƠN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các nguyên tắc của chính sách dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nước ta có trên 50 dân tộc anh em là thành viên trong cộng đồng dân tộc Việt Nam nhưng mỗi dân tộc thiểu số có tâm lý, phong tục, tập quán riêng. Người nhấn mạnh rằng: Việc xây dựng và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, huy động sức người, sức của của các dân tộc phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, phát triển kinh tế, văn hóa của các dân tộc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các dân tộc, mà còn nhằm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc thiểu số trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng… Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề phát triển các dân tộc thiểu số và miền núi của nước ta được thể hiện trong những nội dung cơ bản sau: Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Khu tự trị Việt Bắc năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Chính sách dân tộc của chúng ta là thực hiện sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc. “Đoàn kết, Bình đẳng, Tương trợ” vừa là nguyên tắc, đồng thời cũng vừa là mục tiêu vươn tới trong chính sách dân tộc của Đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam.
Về Đoàn kết tất cả các dân tộc, tư tưởng này của người thể hiện nhận thức phù hợp với thực tiễn khách quan của lịch sử dân tộc Việt nam được thử thách qua những thăng trầm của lịch sử hàng ngàn năm. Đó là “tài sản vô giá” để phát huy trong thời đại vô sản, Người cho rằng: Đồng bào các dân tộc không phân biệt lớn nhỏ, phải yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, để cùng nhau xây dựng Tổ quốc chung, xây dựng chủ nghĩa xã hội làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc, ấm no. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý thức 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết dân tộc. Người luôn luôn đánh giá cao vai trò của nhân dân: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân.
Trong thế giới không có gì mạnh bằng sức mạnh của nhân dân” [37, tr. Nhân dân chính là người sáng tạo ra lịch sử, do đó muốn thực hiện đại đoàn kết lâu dài thì phải luôn luôn lấy dân làm gốc. Người khẳng định: Nhờ sức mạnh đoàn kết đấu tranh của các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng, tất cả đều như anh em trong một nhà, không có sự phân biệt nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa [35, tr.
Người nhấn mạnh : “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Êđê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau” [35, tr. Người cũng chỉ ra rằng: các dân tộc anh em sinh sống trên đất nước phải đoàn kết với nhau: “Đã gọi là đoàn kết thì phải giúp đỡ nhau như anh em trong nhà. Dân tộc nhiều người phải giúp đỡ dân tộc ít người, dân tộc ít người phải cố gắng làm ruộng.
Hai bên giúp đỡ nhau” [36, tr. Chủ tịch Hồ chí Minh đánh giá cao vị trí, vai trò, tầm quan trọng, tiềm năng to lớn của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong sự nghiệp cách mạng: “Miền núi nước ta chiếm một vị trí quan trọng đối với quốc phòng, đối với kinh tế” [37, tr. Người đánh giá cáo bản lĩnh, tính thật thà, chất phác, trọng lẽ phải của đồng bào các dân tộc: “Đồng bào các dân tộc rất thật thà và rất tốt. Nếu nói đúng thì đồng bào nghe, đồng bào làm và làm được” [39, tr.
Đánh giá đúng vị trí của miền núi, vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số, làm cơ sở để đề ra chiến lược và mục tiêu phù hợp với nhiệm vụ cách mạng cụ thể trong từng thời kỳ, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Người chỉ rõ: “Đảng và Nhà nước dân chủ nhân dân cần phải làm cho miền núi tiến kịp với miền xuôi, vùng cao và vùng biên giới tiến kịp với vùng nội địa, các dân tộc thiểu số tiến kịp dân tộc Kinh, giúp đỡ các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và năng lực to lớn của mình, cùng nhau đoàn kết chặt chẽ để tiến lên chủ nghĩa xã hội” [11, tr. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Hồ Chí Minh: “Muốn thực hiện tốt chính sách dân tộc, công tác dân tộc thì phải am hiểu về miền núi, về con người miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số, vì mỗi dân tộc thiểu số có nếp sống, tâm lý, bản sắc riêng đa dạng và phong phú. Muốn tiến hành sự nghiệp cách mạng nói chung và công tác dân tộc nói riêng, thì phải nghiên cứu cho hiểu rõ phong tục mọi nơi” [36,tr. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải gắn bó thật sự với đồng bào, nắm vững và phân tích đúng tình hình, hiểu rõ phong tục tập quán và làm cho đồng bào tin yêu mà tiến hành công tác vận động đồng bào miền núi cụ thể thiết thực, phù hợp, dễ hiểu để đồng bào làm được.
Các chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển kinh tế, văn hóa ở miền núi đòi hỏi phải thực hiện khẩn trương, nhưng không nóng vội, rập khuân máy móc mà phải thận trọng, vững chắc, toàn diện, hiệu quả, đem lại lợi ích cho đồng bào. Hồ Chí Minh xác định vai trò to lớn của Nhà nước, của các cơ quan đoàn thể và cán bộ đối với sự phát triển của vùng dân tộc và miền núi. Người luôn nhắc nhở và giao nhiệm vụ cho các cơ quan Trung ương phải có trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số còn gặp khó khăn. Trách nhiệm thực hiện công tác dân tộc là của mọi nghành, mọi cấp, chứ không phải chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan chuyên trách làm công tác dân tộc.
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số và coi đây là nhân tố quyết định để thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, là một yêu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam. “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [38, tr. “Cán bộ tốt” là người chiếm được niềm tin của quần chúng, là cán bộ “khéo lãnh đạo” và bản thân phải biết tin nhân dân cho nên cần đặc biệt chú trọng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số, đồng thời tăng cường đoàn kết giữa cán bộ tại chỗ và cán bộ nơi khác đến, làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và vùng miền núi. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số phải toàn diện, vừa chú trọng văn hóa, vừa chú trọng chính trị, để hình thành một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vừa có tài, vừa có đức, phải phù hợp với trình độ và đặc điểm của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hồ Chí Minh cho rằng phát triển văn hóa, xây dựng đời sống mới là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, tạo điều kiện để chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho đồng bào. Phải chú ý đến việc phòng bệnh, khám chữa bệnh cho đồng bào bằng cách phát triển mạng lưới y tế, đào tạo cán bộ y tế trong đồng bào dân tộc thiểu số góp phần đấu tranh, xóa bỏ hủ tục còn tồn tại trong đồng bào bằng cách tuyên truyền, giáo dục vận động đồng bào xây dựng đời sống văn hóa. Ngay trong việc giúp đỡ đồng bào miền núi xây dựng đời sống văn hóa mới, người cán bộ trong thực hiện cũng phải cải tạo và xây dựng dần dần, phải tính đến tập quán lâu đời ăn sâu vào cuộc sống của đồng bào bao đời nay, không được nóng vội. Trong kháng chiến, ở những vùng có bộ đội, có cơ quan của ta thì ta gúp đỡ nhân dân chữa bệnh để họ đỡ cúng bái.
Bây giờ có nhiều bệnh viện, bệnh xá, ở biên giới có các đồng chí công an vũ trang giúp dân chữa bệnh rất tốt. Nhưng chưa phải là đã hết cúng bái mê tín. Vì đó là phong tục tập quán đã lâu đời. Muốn cải tạo phong tục tập quán được tốt thì tuyên huấn phải làm, mà phải làm bền bỉ liên tục, làm dần dần chứ không thể chủ quan nóng vội, muốn làm hết ngay một lúc [39, tr.
Không chỉ có vậy, Người còn chỉ cụ thể: “Cái gì phải xóa? - Mê tín hủ tục. Cái gì cần phát triển - Văn hóa giáo dục, vệ sinh, phòng bệnh”. Quan điểm, chủ trương của Đảng về dân tộc và chính sách dân tộc Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã quan tâm đến vấn đề dân tộc. Chính sách dân tộc và cơ sở lý thuyết của chính sách dân tộc được thể hiện trong các văn kiện của các kỳ đại hội Đảng, Hiến pháp và những pháp luật liên quan của Nhà nước Việt Nam.
Trong nghị quyết Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương, vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc được Đảng đề ra trong chương trình hành động và được Quốc tế cộng sản hoàn toàn nhất trí. Đảng Cộng sản thừa nhận các dân tộc được quyền tự do hoàn toàn.