Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Chính sách của Mỹ đối với Đài Loan từ 1949 đến 1972" do nghiên cứu sinh Trần Thị Hạnh Lợi thực hiện tại Trường Đại học Vinh năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Phạm Ngọc Tân và PGS. TS Văn Ngọc Thành. Công trình thuộc chuyên ngành Lịch sử thế giới, mã số 62.11.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí chiến lược đặc biệt của Đài Loan trong chính sách toàn cầu và chiến lược châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Sau năm 1949, khi chính quyền Quốc dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu rút ra Đài Loan, hòn đảo này từ một vùng lãnh thổ khủng hoảng, suy thoái kinh tế sau nội chiến đã từng bước phục hồi, củng cố quốc phòng, duy trì vị thế quốc tế và phát triển kinh tế để trở thành một trong bốn "con rồng" kinh tế của châu Á vào cuối thế kỷ XX. Việc nghiên cứu vai trò của yếu tố Mỹ, đặc biệt là các chương trình viện trợ kinh tế, quân sự và bảo trợ ngoại giao, giúp giải thích nguyên nhân Đài Loan có thể đứng vững trước sức ép từ Cộng hòa Nhân dân (CHND) Trung Hoa và duy trì sự hiện diện quốc tế trong suốt các thập niên 1950 và 1960. Tại Việt Nam, trước thời điểm luận án hoàn thành, các nghiên cứu tổng thể, có hệ thống về chính sách của Mỹ đối với Đài Loan trong mối quan hệ đa phương với CHND Trung Hoa và Liên Xô chưa được tiếp cận đầy đủ. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích có hệ thống chính sách mà chính phủ Mỹ hoạch định và thực thi đối với Đài Loan từ năm 1949 đến năm 1972, từ đó rút ra hệ quả, đặc điểm và đánh giá tác động của chính sách này đối với nước Mỹ, quan hệ Mỹ - CHND Trung Hoa và quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung cụ thể:
- Làm rõ những cơ sở hoạch định và các nhân tố chủ yếu tác động đến chính sách của Mỹ đối với Đài Loan trong giai đoạn 1949 - 1972.
- Nhận diện quá trình thực hiện chính sách của Mỹ đối với Đài Loan trên các lĩnh vực then chốt: an ninh - quân sự, kinh tế và ngoại giao; trong đó tập trung vào các chương trình viện trợ kinh tế, viện trợ quân sự và hoạt động bảo vệ vị thế đại diện của Trung Hoa Dân quốc tại Liên Hợp Quốc.
- Rút ra hệ quả, đặc điểm cơ bản của chính sách của Mỹ đối với Đài Loan; phân tích những tác động của chính sách này đến nội bộ nước Mỹ, quan hệ Mỹ - CHND Trung Hoa và quan hệ Đài Loan - CHND Trung Hoa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Đài Loan từ năm 1949 đến năm 1972, trong đó chủ thể nghiên cứu là chính sách đối ngoại của chính phủ Mỹ.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1949 - 1972. Mốc mở đầu năm 1949 gắn với sự kiện chính quyền Quốc dân Đảng rút chạy ra Đài Loan và thiết lập thể chế chính trị riêng biệt sau khi thất bại trong cuộc Nội chiến Quốc - Cộng lần thứ ba tại Trung Quốc Đại lục. Mốc kết thúc năm 1972 đánh dấu bằng cuộc gặp cấp cao Mỹ - CHND Trung Hoa tại Thượng Hải và việc công bố Thông cáo chung Thượng Hải, mở đầu tiến trình bình thường hóa quan hệ Mỹ - Trung và làm biến chuyển căn bản chính sách của Mỹ đối với Đài Loan. Trong lĩnh vực kinh tế, luận án tập trung khảo sát sâu giai đoạn 1949 - 1965; từ sau tháng 6/1965, khi Mỹ chấm dứt chương trình viện trợ kinh tế trực tiếp và chuyển sang quan hệ thương mại bình đẳng song phương, nội dung kinh tế không còn là trọng tâm phân tích sâu của luận án.
- Phạm vi không gian: Tập trung vào quan hệ song phương Mỹ - Đài Loan, đồng thời mở rộng nghiên cứu trong mối tương tác chiến lược với Trung Quốc Đại lục (CHND Trung Hoa) và bối cảnh khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân loại theo các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Trung:
Nhóm nghiên cứu về chính sách của Mỹ đối với Đài Loan và quan hệ Mỹ - Đài Loan:
- Jie Chen (1992) với công trình Ideology in U.S. Foreign Policy: Case Studies in U.S. China Policy, phân tích vai trò của hệ tư tưởng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Trung Quốc và Đài Loan.
- William M. Bueler (1971) trong U.S. China Policy and the Problem of Taiwan, khảo sát sự điều chỉnh chính sách của các đời tổng thống Mỹ, vị trí của Đài Loan trong chiến lược châu Á và áp lực chính trị nội bộ đối với chính quyền John F. Kennedy.
- Øystein Tunsjø trong US Taiwan Policy: Constructing the Triangle, phân tích chính sách của Mỹ đối với Đài Loan trong cấu trúc tam giác chiến lược Mỹ - Đài Loan - CHND Trung Hoa, chỉ ra 4 trạng thái tồn tại của Đài Loan và lý giải bước ngoặt trung lập hóa eo biển của Harry S. Truman (1950) cùng sự thay đổi chiến lược dưới thời Richard Nixon (1969 - 1972).
- Robert Accinelli với Crisis and Commitment: United States Policy Toward Taiwan, 1950-1955, làm rõ tiến trình gia tăng cam kết an ninh, quân sự của Mỹ đối với chính quyền Tưởng Giới Thạch từ khi Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ đến khi ký Hiệp ước Phòng thủ chung năm 1954 và các cuộc khủng hoảng tại các đảo ngoài khơi (Kim Môn, Mã Tổ, Đại Trần).
- John C. Kuan (1992) trong A Review of U.S.-R.O.C. Relations 1949-1978, xuất bản tại Đài Bắc, tổng hợp các chuyển biến chính sách Trung Quốc của Mỹ qua các đời tổng thống từ H. Truman đến R. Nixon.
- Steven M. Goldstein với The United States and the Republic of China, 1949 - 1978: Suspicious Allies, chỉ ra tính chất của một "liên minh ngờ vực" khi Mỹ vừa bảo vệ vừa kiểm soát hành động quân sự của Quốc dân Đảng để tránh xung đột trực tiếp với CHND Trung Hoa.
- Các học giả Trung Quốc như Lý Thế An (1945 年至 1954 年间美国对台湾政策的变化 - Sự thay đổi chính sách của Mỹ đối với Đài Loan từ năm 1945 đến năm 1954), Tan Xiao Shu (美国对台湾政策的演变及其特点 - Diễn biến và đặc điểm chính sách của Mỹ đối với Đài Loan), Quán Trung (十年必辯, 十年必變 — 五十年美國對華政策的轉折 - Mười năm tranh luận, mười năm thay đổi), Wang Jisi (1945 - 1955 年美国对华政策及其后果), và Huo Shiliang (论五十年代美国的对华政策), phân tích sự can thiệp của Mỹ, chính sách hai mặt và các mâu thuẫn nội bộ chính trị Mỹ tác động đến quan hệ song phương và đa phương.
- Học giả Hoàng Gia Thụ trong Đài Loan - Tiến trình hóa rồng (1945 - 1988), đề cập đến tác động của các chính sách của Mỹ đối với sự chuyển dịch kinh tế - xã hội của Đài Loan.
Nhóm nghiên cứu về viện trợ của Mỹ:
- Neil H. Jacoby (1966) với U.S. Aid to Taiwan: A Study of Foreign Aid, Self-Help, and Development, cung cấp số liệu thực nghiệm toàn diện về cơ cấu, khối lượng và tác động của các chương trình viện trợ kinh tế Mỹ cho Đài Loan trong giai đoạn 1951 - 1965.
- Wei-chen Lee và I-min Chang với bài viết US Aid and Taiwan, phân tích hiệu quả chuyển đổi từ nền kinh tế phụ thuộc sang tự chủ.
- Vu Triều với hai bài nghiên cứu tiếng Trung: Mỹ dành cho Đài Loan bao nhiêu viện trợ kể từ năm 1949? và Viện trợ quân sự của Mỹ đối với Đài Loan trong những năm 50 - 60 thế kỷ 20, làm rõ sự phân bổ viện trợ quân sự và xu hướng chuyển từ viện trợ không hoàn lại sang mua sắm thương mại.
- Nick Cullather trong Fuel for the Good Dragon: The United States and Industrial Policy in Taiwan, 1950 - 1965, đánh giá chính sách công nghiệp hóa dưới sự tài trợ của Mỹ.
Nhóm nghiên cứu về bối cảnh quan hệ quốc tế và quan hệ Mỹ - CHND Trung Hoa:
- Diệp Vĩnh Liệt (Những nhân vật lịch sử Trung Quốc hiện đại); Lý Kiện (Trung-Xô-Mỹ: Cuộc đối đầu lịch sử); David A. Orletsky và Barry Wilson (Dire Strait?: Military Aspects of the China-Taiwan Confrontation and Options for U.S. Policy); Appu Kuttan Soman (Double-edged Sword: Nuclear Diplomacy in Unequal Conflicts: the United States and China, 1950-1958); Roderick MacFarquhar (Sino-American Relations 1949-1971); Giang Bỉnh Khôn (Kinh tế Đài Loan, vấn đề và đối sách); Trì Điền Triết Phu và Hồ Hân (Đài Loan nền kinh tế siêu tốc và bức tranh cho thế kỷ sau); Phạm Giảng (Lịch sử quan hệ quốc tế từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến Chiến tranh Triều Tiên 1939 - 1952); Trần Thiện Thanh (Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản nửa đầu thế kỷ XX).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các công trình quốc tế tiếp cận vấn đề từ góc độ lợi ích đơn phương của Mỹ, của Trung Quốc Đại lục hoặc của Đài Bắc, hoặc chỉ đi sâu vào một giai đoạn ngắn (1950 - 1955) hay một lĩnh vực hẹp (viện trợ kinh tế 1951 - 1965). Tại Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, liên tục về toàn bộ tiến trình hoạch định, điều chỉnh và thực thi chính sách của Mỹ đối với Đài Loan trong suốt khung thời gian 1949 - 1972 dưới góc nhìn lịch sử khách quan, gắn kết chặt chẽ ba trụ cột an ninh - quân sự, kinh tế và ngoại giao.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận: Luận án dựa trên quan điểm phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đồng thời quán triệt các quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam (công nhận nguyên tắc một Trung Quốc, CHND Trung Hoa là đại diện hợp pháp duy nhất của Trung Quốc, coi Đài Loan là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Trung Quốc).
Phương pháp nghiên cứu:
- Luận án sử dụng hai phương pháp chuyên ngành chủ đạo là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Phương pháp lịch sử tái hiện diễn trình chính sách qua từng giai đoạn cụ thể theo trình tự thời gian; phương pháp lôgic khái quát các quy luật, đặc điểm, động cơ chiến lược và hệ quả của chính sách.
- Luận án kết hợp các phương pháp liên ngành khoa học xã hội: phương pháp phân tích chính sách đối ngoại, phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, phương pháp tổng hợp, so sánh lịch sử và thống kê số liệu kinh tế - quân sự.
- Cách tiếp cận: Tiếp cận theo chủ nghĩa hiện thực lịch sử (xem xét lợi ích quốc gia - dân tộc và tương quan quyền lực là động lực chính của chính sách đối ngoại); tiếp cận hệ thống - cấu trúc (đặt quan hệ Mỹ - Đài Loan trong cấu trúc đa tầng của hệ thống quốc tế Chiến tranh Lạnh và quan hệ tam giác Mỹ - Xô - Trung).
Nguồn tư liệu sử dụng:
- Nguồn tư liệu gốc:
- Các văn kiện ngoại giao trong bộ tài liệu Foreign Relations of the United States (FRUS) do Bộ Ngoại giao Mỹ công bố.
- Các hiệp ước, hiệp định song phương giữa Mỹ và chính quyền Trung Hoa Dân quốc (như Hiệp ước Phòng thủ chung 1954).
- Các đạo luật, nghị định, sắc lệnh của Quốc hội và Chính phủ Mỹ (như Đạo luật Viện trợ Trung Quốc năm 1948, Nghị quyết Vịnh Đài Loan năm 1955).
- Các bản thông điệp liên bang, công hàm, tuyên bố chính sách của các Tổng thống Harry S. Truman, Dwight D. Eisenhower, John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson, Richard Nixon và các Ngoại trưởng George C. Marshall, Dean Acheson, John Foster Dulles, Dean Rusk, Cố vấn An ninh Quốc gia Henry Kissinger.
- Hồi ký chính trị của các chính khách Mỹ trực tiếp tham gia hoạch định chính sách.
- Nguồn tài liệu nghiên cứu: Sách chuyên khảo, bài báo khoa học, kỷ yếu hội thảo, luận án tiến sĩ của các học giả Việt Nam, Mỹ, Trung Quốc và Đài Loan.
- Các tài liệu thống kê, báo cáo của các tổ chức quốc tế (IMF, WB, IBRD) và các cơ quan đại diện ngoại giao, viện trợ (MAAG, MSA, USAID).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá chi tiết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả chia các công trình thành hai mảng lớn: các công trình trực tiếp khảo sát chính sách của Mỹ đối với Đài Loan (bao gồm các nghiên cứu về hệ tư tưởng, cam kết an ninh, tiến trình trung lập hóa eo biển, hoạt động viện trợ kinh tế - quân sự và mối quan hệ liên minh đặc biệt); và các công trình liên quan đến quan hệ Mỹ - CHND Trung Hoa, quan hệ Trung - Xô, cùng tiến trình phát triển kinh tế của Đài Loan. Trên cơ sở phân tích những kết quả đã đạt được và các hạn chế của các công trình đi trước, chương này xác lập rõ các nhiệm vụ khoa học mà luận án tập trung giải quyết.
Chương 2: Cơ sở hoạch định và những nhân tố tác động đến chính sách của Mỹ đối với Đài Loan (1949 - 1972)
Chương 2 phân tích các điều kiện nền tảng và bối cảnh đa chiều chi phối việc hoạch định chính sách của Washington:
- Cơ sở hoạch định chính sách:
- Tiềm lực kinh tế vượt trội (chiếm phần lớn sản lượng công nghiệp thế giới sau năm 1945), ưu thế khoa học - kỹ thuật (độc quyền và đi đầu về vũ khí hạt nhân) và sức mạnh quân sự toàn cầu của Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
- Chiến lược toàn cầu ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản của Mỹ và vị trí "mắt xích" phòng thủ chiến lược của đảo Đài Loan trong chuỗi đảo tiền tiêu ở Tây Thái Bình Dương (ngăn chặn sự mở rộng của Liên Xô và CHND Trung Hoa xuống Đông Nam Á).
- Lịch sử quan hệ và chính sách hỗ trợ của Mỹ đối với chính quyền Trung Hoa Dân quốc trước năm 1949: từ việc công nhận ngoại giao năm 1928, đưa Trung Hoa Dân quốc vào hàng ngũ "Tứ cường" chống phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai (với các gói viện trợ tài chính lớn như 10 tỷ USD năm 1941 tăng lên 52 tỷ và 70 tỷ USD năm 1942), đến giai đoạn can thiệp hòa giải bất thành của Tướng G. Marshall (1945 - 1946) và các khoản viện trợ tài chính, quân sự quy mô lớn trong Nội chiến (như Đạo luật Viện trợ Trung Quốc ngày 2/4/1948 với 463 triệu USD, gồm 338 triệu USD viện trợ kinh tế và 125 triệu USD viện trợ đặc biệt/quân sự; cùng tổng viện trợ 4,43 tỷ USD trong giai đoạn sau năm 1945).
- Chính sách của Mỹ đối với CHND Trung Hoa: chuyển từ ý định ban đầu xem xét khả năng thích ứng sang chính sách kiềm chế, bao vây, cô lập và không công nhận ngoại giao sau khi Bắc Kinh tham gia Chiến tranh Triều Tiên.
- Những nhân tố tác động:
- Bối cảnh quốc tế phân cực Đông - Tây và các điểm nóng xung đột tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
- Áp lực chính trị nội bộ nước Mỹ (sự tranh cãi gay gắt giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa, ảnh hưởng của nhóm "China Lobby" ủng hộ Quốc dân Đảng).
- Vai trò của các cá nhân lãnh đạo chủ chốt (H. Truman, D. Eisenhower, J.F. Dulles, R. Nixon, H. Kissinger, Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai).
- Động thái chính sách và sức mạnh quân sự của CHND Trung Hoa.
- Tình hình mâu thuẫn và sự rạn nứt trong quan hệ Xô - Trung từ cuối thập niên 1950.
- Diễn biến nội tại về chính trị - kinh tế của Đài Loan dưới sự lãnh đạo của Quốc dân Đảng sau năm 1949.
Chương 3: Chính sách của Mỹ đối với Đài Loan và diễn trình thực hiện (1949 - 1972)
Chương 3 là phần cốt lõi của luận án, tái hiện chi tiết chính sách của Mỹ qua 4 giai đoạn phát triển lịch sử:
| Giai đoạn |
Tên gọi chính sách |
Mục tiêu và nội dung cốt lõi |
Biện pháp thực thi và công cụ chủ yếu |
| 1949 - 1950 |
Chính sách không can thiệp |
Tránh bị lôi kéo vào nội chiến Trung Quốc; công bố Sách Trắng năm 1949; chờ đợi tình hình lắng dịu sau khi Quốc dân Đảng thất bại ở Đại lục. |
Tạm dừng viện trợ quân sự quy mô lớn; tuyên bố Đài Loan không nằm trong vành đai phòng thủ chiến lược của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương. |
| 1950 - 1953 |
Chính sách trung lập hóa eo biển Đài Loan |
Ngăn chặn quân đội CHND Trung Hoa tấn công Đài Loan, đồng thời kiềm chế Tưởng Giới Thạch tấn công Đại lục nhằm tránh một cuộc chiến tranh mở rộng tại châu Á. |
Tổng thống Truman ra lệnh cho Hạm đội 7 tuần tra eo biển Đài Loan (ngày 27/6/1950); tái khởi động các chương trình viện trợ kinh tế và quân sự khẩn cấp; thành lập Phái bộ Cố vấn Quân sự (MAAG). |
| 1953 - 1968 |
Chính sách bảo vệ và ủng hộ Đài Loan |
Biến Đài Loan thành tiền đồn chống cộng vững chắc; duy trì tư cách đại diện duy nhất của Trung Quốc cho Đài Bắc tại Liên Hợp Quốc; ngăn chặn tối đa CHND Trung Hoa. |
Ký Hiệp ước Phòng thủ chung Mỹ - Đài Loan (12/1954); Quốc hội Mỹ thông qua Nghị quyết Vịnh Đài Loan (1/1955); hỗ trợ quân sự trong khủng hoảng Kim Môn - Mã Tổ (1954 - 1955, 1958); viện trợ kinh tế 1951 - 1965 (hơn 1,4 tỷ USD) và viện trợ quân sự (trên 2,5 tỷ USD). |
| 1969 - 1972 |
Tiếp tục ủng hộ Đài Loan kết hợp xích lại gần CHND Trung Hoa |
Tìm kiếm giải pháp rút quân khỏi Chiến tranh Việt Nam; khai thác mâu thuẫn Trung - Xô; từng bước điều chỉnh cam kết với Đài Loan để đạt thỏa hiệp chiến lược với Bắc Kinh. |
Thực thi Thuyết Nixon; giảm dần hiện diện quân sự trực tiếp tại Đài Loan; chuyển từ viện trợ quân sự sang bán vũ khí thương mại; đàm phán bí mật với Bắc Kinh và ký Thông cáo Thượng Hải (1972). |
Về khía cạnh kinh tế và quân sự, chương 3 tổng hợp các bảng thống kê về viện trợ:
- Giai đoạn 1951 - 1953: Viện trợ kinh tế và quân sự khẩn cấp giúp Đài Loan ổn định tài chính, kiềm chế lạm phát phi mã và tái thiết nông nghiệp - công nghiệp cơ bản.
- Giai đoạn 1953 - 1965: Chương trình viện trợ kinh tế Mỹ cung cấp vốn, thiết bị, nguyên vật liệu và hỗ trợ cải cách ruộng đất, phát triển hạ tầng và công nghiệp thay thế nhập khẩu. Đến tháng 6/1965, khi kinh tế Đài Loan đạt tốc độ tăng trưởng cao và tự chủ ngân sách, Mỹ chính thức kết thúc viện trợ kinh tế.
- Viện trợ quân sự: Duy trì ở mức cao suốt thập niên 1950 và nửa đầu thập niên 1960 để hiện đại hóa lục quân, hải quân và không quân Đài Loan, trước khi chuyển đổi sang các hợp đồng thương mại quân sự sau năm 1965.
Chương 4: Nhận xét về chính sách của Mỹ đối với Đài Loan từ 1949 đến 1972
Chương 4 tổng kết các đánh giá khoa học về chính sách:
- Hệ quả từ chính sách của Mỹ:
- Về an ninh, quân sự và chính trị - ngoại giao: Đảm bảo sự tồn tại và an toàn của chính quyền Trung Hoa Dân quốc tại Đài Loan trước ưu thế quân sự của CHND Trung Hoa; ngăn ngừa nguy cơ bùng nổ chiến tranh tổng lực tại eo biển; giữ vững ghế ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc cho Đài Bắc trong hơn hai thập kỷ (đến năm 1971).
- Về kinh tế: Tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu, kiềm chế lạm phát, hiện đại hóa hạ tầng, hỗ trợ kỹ thuật và mở cửa thị trường Mỹ cho hàng hóa Đài Loan, đặt nền tảng vững chắc cho quá trình công nghiệp hóa và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Đài Loan.
- Đặc điểm cơ bản của chính sách:
- Tính linh hoạt và thực dụng: Chính sách luôn biến đổi theo tính toán lợi ích quốc gia của Mỹ, từ bỏ mặc (1949) sang bảo vệ toàn diện (1950 - 1968) và từng bước nới lỏng cam kết để bình thường hóa quan hệ với Bắc Kinh (1969 - 1972).
- Mối quan hệ liên minh đặc biệt và không bình đẳng: Mỹ đóng vai trò người bảo trợ, vừa cung cấp an ninh vừa kiểm soát chặt chẽ các hoạt động quân sự của Tưởng Giới Thạch, ngăn cản kế hoạch "phản công Đại lục" khi không phục vụ lợi ích Mỹ.
- Sự tương tác hữu cơ giữa chính sách đối với Đài Loan và chính sách đối với CHND Trung Hoa: Đài Loan là công cụ chiến lược phục vụ mục tiêu kiềm chế, cô lập hoặc làm đòn bẩy đàm phán của Mỹ với chính quyền Bắc Kinh.
- Là một bộ phận khăng khít trong chiến lược toàn cầu chống cộng sản của Mỹ: Việc bảo vệ Đài Loan nằm trong hệ thống các hiệp ước an ninh song phương và đa phương (như NATO, ANZUS, SEATO, Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật).
- Tác động của chính sách:
- Đối với nước Mỹ: Bảo vệ tuyến phòng thủ chiến lược ở Tây Thái Bình Dương, song cũng gây chia rẽ chính trị nội bộ và làm tăng nguy cơ đối đầu hạt nhân trực tiếp với Trung Quốc trong các cuộc khủng hoảng eo biển.
- Đối với quan hệ Mỹ - CHND Trung Hoa: Tạo nên tình trạng đối đầu thù địch kéo dài hơn 20 năm, là rào cản lớn nhất ngăn cản việc thiết lập quan hệ ngoại giao song phương cho đến đầu thập niên 1970.
- Đối với quan hệ hai bờ eo biển: Duy trì hiện trạng phân chia chính trị lâu dài giữa Đài Loan và Trung Quốc Đại lục.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đạt được những kết quả và đóng góp khoa học cụ thể sau:
- Về mặt học thuật và lý luận: Luận án là công trình chuyên khảo lịch sử đầu tiên ở Việt Nam phân tích có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về chính sách của Mỹ đối với Đài Loan trong suốt giai đoạn 1949 - 1972, làm rõ bản chất, động cơ, cơ chế vận hành và sự biến chuyển của chính sách đối ngoại Mỹ thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
- Về mặt thực tiễn lịch sử: Luận án làm sáng tỏ các số liệu, tài liệu văn kiện ngoại giao gốc của Mỹ và nguồn tư liệu lịch sử từ các bên liên quan; chứng minh vai trò then chốt của viện trợ Mỹ đối với sự tồn tại chính trị và quá trình tái thiết, phát triển kinh tế của Đài Loan; đồng thời lý giải rõ ràng nguyên nhân dẫn đến bước ngoặt điều chỉnh chính sách của Washington năm 1972.
- Kiến nghị và bài học kinh nghiệm: Từ việc tổng kết lịch sử quan hệ phức tạp giữa nước lớn (Mỹ) và vùng lãnh thổ đồng minh (Đài Loan) trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn (Mỹ - Trung - Xô), luận án cung cấp những bài học lịch sử hữu ích cho Việt Nam trong việc nhận diện bản chất quan hệ quốc tế, dự báo xu hướng vận động chính sách của các nước lớn, và hoạch định chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa trong bối cảnh an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương đương đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi nội dung kinh tế: Do tập trung chủ yếu vào việc phân tích tác động của các chương trình viện trợ của Mỹ đối với Đài Loan, luận án chỉ khảo sát sâu lĩnh vực kinh tế đến năm 1965 (thời điểm Mỹ chấm dứt viện trợ kinh tế trực tiếp), chưa đi sâu vào quan hệ thương mại và đầu tư song phương Mỹ - Đài Loan giai đoạn 1965 - 1972.
- Về nguồn tài liệu: Do điều kiện khách quan, tác giả chủ yếu tiếp cận các văn kiện đã được giải mật của Bộ Ngoại giao Mỹ và các công trình nghiên cứu đã xuất bản, chưa có điều kiện tiếp cận trực tiếp các tài liệu lưu trữ gốc chưa công bố từ phía chính quyền Đài Bắc và Bắc Kinh.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu quan hệ kinh tế, thương mại và chuyển giao công nghệ giữa Mỹ và Đài Loan giai đoạn sau năm 1965.
- Nghiên cứu chính sách của Mỹ đối với Đài Loan giai đoạn từ sau năm 1972 đến nay, đặc biệt là việc thực thi Đạo luật Quan hệ Đài Loan (TRA) năm 1979 và mối quan hệ phức tạp trong cấu trúc an ninh khu vực thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên: Chuyên ngành Lịch sử thế giới, Quan hệ quốc tế, Lịch sử ngoại giao Mỹ, Khu vực học (nghiên cứu Đông Á, Trung Quốc, Đài Loan), sử dụng làm tài liệu học tập và nghiên cứu chuyên khảo về Chiến tranh Lạnh.
- Cán bộ nghiên cứu chiến lược và người làm chính sách đối ngoại: Cung cấp tư liệu lịch sử và khung phân tích thực tế về mối quan hệ tam giác Mỹ - Trung - Đài, giúp ích cho công tác theo dõi, dự báo các biến động an ninh - chính trị tại khu vực eo biển Đài Loan và biển Đông.
- Các phần đáng tham khảo nhất: Bức tranh phân kỳ chính sách chi tiết tại Chương 3; hệ thống dữ liệu về viện trợ kinh tế - quân sự của Mỹ cho Đài Loan; và các nhận định về tính chất thực dụng trong chính sách ngoại giao nước lớn tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong giai đoạn 1949 - 1950, trước khi Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, chính quyền Tổng thống H. Truman đã thi hành chính sách gì đối với Đài Loan?
Trong giai đoạn từ cuối năm 1949 đến trước tháng 6/1950, chính phủ Mỹ áp dụng chính sách "không can thiệp". Bộ Ngoại giao Mỹ công bố Sách Trắng năm 1949 xác định thất bại của Quốc dân Đảng là do sự bất lực nội tại, tuyên bố không can dự quân sự để cứu Đài Loan và sẵn sàng chấp nhận khả năng CHND Trung Hoa giải phóng hòn đảo này.
2. Sự kiện nào là bước ngoặt quyết định khiến Mỹ đảo ngược chính sách và can thiệp bảo vệ eo biển Đài Loan?
Sự kiện bước ngoặt là việc cuộc Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào ngày 25/6/1950. Ngày 27/6/1950, Tổng thống H. Truman ra tuyên bố thay đổi lập trường, khẳng định tương lai Đài Loan là "chưa xác định" và ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan để thực hiện chính sách "trung lập hóa", ngăn chặn xung đột quân sự giữa hai bờ eo biển.
3. Chương trình viện trợ kinh tế của Mỹ cho Đài Loan được triển khai trong giai đoạn nào và khi nào chính thức chấm dứt?
Chương trình viện trợ kinh tế của Mỹ dành cho Đài Loan được tái khởi động từ năm 1950 - 1951 và thực hiện liên tục cho đến ngày 30/6/1965. Mỹ chính thức ngừng viện trợ kinh tế vì nền kinh tế Đài Loan đã phục hồi vững chắc, đạt tỷ lệ tăng trưởng cao và có khả năng tự tích lũy phát triển độc lập mà không cần trợ cấp từ bên ngoài.
4. Hiệp ước Phòng thủ chung giữa Mỹ và Đài Loan được ký kết vào thời điểm nào và có ý nghĩa an ninh ra sao?
Hiệp ước Phòng thủ chung Mỹ - Đài Loan được ký kết vào tháng 12/1954 và có hiệu lực từ đầu năm 1955. Văn kiện này chính thức thể chế hóa liên minh quân sự song phương, đặt Đài Loan dưới chiếc ô bảo hộ an ninh của Mỹ, buộc Mỹ phải can thiệp nếu Đài Loan bị tấn công, đồng thời trao cho Washington quyền kiểm soát các hành động quân sự của chính quyền Đài Bắc.
5. Sự kiện ngoại giao nào năm 1972 đã làm thay đổi căn bản chính sách của Mỹ đối với Đài Loan?
Đó là chuyến thăm chính thức CHND Trung Hoa của Tổng thống Richard Nixon và việc hai bên ký kết Thông cáo chung Thượng Hải vào tháng 2/1972. Sự kiện này mở đầu tiến trình bình thường hóa quan hệ Mỹ - Trung, trong đó Mỹ thừa nhận nguyên tắc chỉ có một nước Trung Quốc và Đài Loan là một phần của Trung Quốc, dẫn đến việc Mỹ từng bước thu hẹp cam kết quân sự và ngoại giao chính thức với Đài Bắc.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Hạnh Lợi là một công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phục dựng toàn diện tiến trình hoạch định và thực thi chính sách của Mỹ đối với Đài Loan trong giai đoạn 1949 - 1972. Qua việc phân loại 4 giai đoạn phát triển chính sách gắn liền với bối cảnh Chiến tranh Lạnh và phân tích các trụ cột an ninh, kinh tế, ngoại giao, luận án đã làm rõ tính linh hoạt, thực dụng và bản chất phục vụ lợi ích toàn cầu của chiến lược ngoại giao Mỹ. Công trình đóng góp nguồn tư liệu khoa học xác thực và góc nhìn học thuật khách quan, bổ sung khoảng trống nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế tại Việt Nam.