Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương: Chƣơng 1. Khái quát quá trình khai phá và xác lập chủ quyền vùng đất Tây Nam Bộ thời nhà Nguyễn. Chính sách bảo vệ biên giới Tây Nam Bộ của nhà Nguyễn 1757 – 1857. Tác động của chính sách bảo vệ biên giới Tây Nam Bộ của nhà Nguyễn 1757 – 1857.
13 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ VÀ XÁC LẬP CHỦ QUYỀN VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ THỜI NHÀ NGUYỄN 1. Khái quát vùng Tây Nam bộ 1. Điều kiện tự nhiên Đồng bằng sông Cửu Long hay còn gọi là vùng Tây Nam Bộ là vùng đất cực Nam của Tổ Quốc - vùng đất được xác lập chủ quyền cuối cùng trong lịch sử. Hiện nay đây là vùng có vai trò và vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của đất nước.
Miền Tây Nam Bộ hiện nay bao gồm 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc trăng, Đồng Tháp, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và có 1 thành phố trực thuộc trung ương là thành phố Cần Thơ. Tổng diện tích các tỉnh, thành Tây Nam Bộ là 40.548,2 km² (chiếm 13% diện tích cả nước), tổng dân số 17. Về vị trí địa lý, Tây Nam Bộ tiếp giáp với Đông Nam Bộ ở hai tỉnh Long An và Tiền Giang. Phía Bắc giáp với biên giới nước bạn Campuchia, phía Đông Nam giáp biển Đông, phía Tây Nam giáp Vịnh Thái Lan.
Tây Nam Bộ là một trong những vùng biên giới trọng yếu ở lãnh thổ phía Nam của đất nước, giáp với nước bạn Campuchia trên bộ và vịnh Thái Lan trên biển. Về đường biên giới với Campuchia, tính chung toàn tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia, chủ yếu chạy theo hướng Bắc - Nam và Đông Bắc - Tây Nam, đi qua 9 tỉnh của Campuchia là Ratanakiri, Mondulkiri, Kratie, Tbong Khmum, Svay Rieng, Prey Veng, Kandal, Takeo và Kampot và 10 tỉnh của Việt Nam là Kon Tum, Gia lai, Đắk Lắk, Đắc Nông, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang. Đường biên giới này có điểm bắt đầu là cột mốc ngã ba Việt Nam - Lào - Campuchia, trên ranh giới hai tỉnh Ratanakiri và Kon Tum, điểm cuối trên bờ biển tiếp giáp tỉnh 14 Kiên Giang và tỉnh Kampot của Campuchia, tổng chiều dài đường biên giới trên đất liền khoảng 1. Riêng biên giới ở Tây Nam Bộ khá đặc biệt, vừa có đường tiếp giáp biên giới với nước bạn Campuchia trên đất liền, vừa có đường bờ biển khá dài.
Đường biên giới trên đất liền ở Tây Nam Bộ có tổng chiều dài khoảng 329 km, có 4 tỉnh của vùng giáp với Camphuchia. Cụ thể: - Tỉnh Long An tiếp giáp với tỉnh Svay Rieng, dài khoảng 136 km, có 5 huyện, 19 xã biên giới. - Tỉnh Đồng Tháp tiếp giáp với tỉnh Prey Veng, dài khoảng 49 km, có 2 huyện, 8 xã biên giới. - Tỉnh An Giang tiếp giáp với 2 tỉnh Kandal, Takeo, dài khoảng 96 km, có 5 huyện, 17 xã biên giới.
- Tỉnh Kiên Giang tiếp giáp với tỉnh Kampot, dài khoảng 48 km, có 2 huyện thị, 5 xã phường biên giới [85]. Về khí hậu, Tây Nam Bộ có hai mùa chủ yếu là mùa mưa và mùa khô, mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 lượng mưa chiếm tới 99% tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa trung bình từ 1.000 mm/năm, mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và mùa này hầu như không có mưa. Miền Tây Nam Bộ có khí hậu nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình hàng năm là 24-270oC. đây có hệ thống kênh rạch dày đặc, tổng lượng nước trong năm của hệ thống sông Cửu Long là 500 tỷ m3, rất thuận tiện cho giao thông đường thuỷ và nuôi trồng thuỷ sản.
Đường bờ biển dài trên 736 km với nhiều đảo và quần đảo, Tây Nam Bộ trở thành vùng thuỷ sản lớn nhất nước, có hệ sinh thái rừng ngập mặn điển hình nhất nước [47, tr. Về địa hình, Tây Nam Bộ là vùng đồng bằng châu thổ do sông Cửu Long (sông Mê Kông) tạo nên, với độ cao trung bình so với mực nước biển chỉ là 3-5m. Đây là một trong những đồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu 15 của Đông Nam Á và thế giới, trong đó đất phù sa chiếm 29,7% diện tích toàn vùng, phân bố chủ yếu ở vùng ven giữa hệ thống sông Tiền và sông Hậu; đất ph n chiếm 40% tập trung ở vùng Đồng Tháp Mười, Hà Tiên, vùng trũng trung tâm bán đảo Cà Mau; đất mặn chiếm 16,7% phân bố dọc theo biển Đông và vịnh Thái Lan; đất xám và các loại đất khác chiếm 13. Là vùng đồng bằng thấp và là một vùng đồng bằng ngập nước, Tây Nam Bộ nhận lưu lượng nước từ 2 dòng chính sông Mê Kông là sông Tiền và sông Hậu cùng với hệ thống các dòng sông, kênh, rạch như sông Hàm Luông, Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây.
Những yếu tố đó đã giúp Tây Nam Bộ trở thành vùng cây ăn trái nhiệt đới, vùng sản xuất lương thực lớn nhất nước. Về địa hình khu vực biên giới, đường biên giới phía Tây Nam giữa Việt Nam - Campuchia đi qua các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, đi ngoằn ngo o qua địa hình khá bằng phẳng gồm những sông, rạch, đồng ruộng, sình lầy. Chính vì thế, việc đi lại qua biên giới giữa hai nước khá dễ dàng, đặc biệt vào mùa nước nổi thì khó phân định đường biên giới và có thể dễ dàng xuôi thuyền từ Campuchia sang Việt Nam một cách nhanh chóng. Có nhiều điểm có đường biên giới tự nhiên là những con sông như Sóc Nóc, O Kâmpong Rou, Cá Rô, PrêkKâmpong Rôteh, Long Khốt, Cái Cỏ giáp ở địa phận Long An; các sông Tam Ly, Sở Hạ, Không tên, Cái Xu, Sở Thượng ở Đồng Tháp, sông Hậu ở An Giang [47, tr.
Với đặc điểm địa hình vùng biên giới khá đặc biệt như vậy, nên việc xác định đường biên giới giữa nước ta với Chân Lạp và giữ vững cương vực lãnh thổ ở biên giới Tây Nam trong lịch sử là cả một quá trình diễn ra thường xuyên và liên tục của các chúa và vua nhà Nguyễn. Như vậy, Tây Nam Bộ với những đặc điểm về đất đai, khí hậu, địa hình. đã sớm trở thành một vùng đất đầy tiềm năng trong quá trình chinh phục, mở cõi vào Nam của người Việt vào thế kỷ XVII - XVIII. Bên cạnh đó, 16 từ những đặc điểm của điều kiện tự nhiên cũng cho thấy, đây cũng là một vùng đất đầy rẫy khó khăn, thử thách đối với người dân Việt trong lịch sử.
Đối với nhân dân, đó là những thử thách về sự dũng cảm, kiên trì, bền bỉ trong quá trình khai phá đất đai, chinh phục thiên nhiên. Song song đó, đối với chính quyền nhà Nguyễn là những thử thách trong quá trình xác lập, thực thi và đấu tranh bảo vệ, gìn giữ chủ quyền quốc gia ở từng vùng biên giới trong suốt hơn một thế kỷ. Đặc điểm dân cư và tình hình kinh tế xã hội Được hình thành muộn nhất trong các khu vực khác của cả nước, lại có một quá trình khai phá khá đặc biệt do nhiều thành phần dân cư tụ họp về nên Tây Nam Bộ là vùng đất đa dạng về văn hóa, dân tộc, tôn giáo. Từ thế kỉ XVII, lưu dân người Việt đã đến định cư và khai phá, với ngành kinh tế chính là nền nông nghiệp trồng lúa nước và đánh bắt thủy sản.
Người Việt cùng với các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer cùng khai thác và phát triển vùng đất này ngày càng trở nên trù phú. Dân số hiện nay của vùng hơn 17,2 triệu người (chiếm khoảng 18% dân số cả nước), trong đó đa số là người Kinh, người Khmer chiếm khoảng 6,1% sống chủ yếu ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang; người Hoa chiếm khoảng 1,7% dân số của vùng, tập trung nhiều ở các tỉnh Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau; người Chăm chiếm tỉ lệ khoảng 0,08% sống ở An Giang, cùng với các dân tộc còn lại chiếm khoảng 0,2% dân số [86]. Riêng các tỉnh giáp biên giới ở Tây Nam Bộ như Long An, An Giang, Kiên Giang có nhiều thành phần dân tộc thiểu số sinh sống như Chăm, Hoa, Khmer. sống xen kẽ với nhau, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng phát triển.
Mỗi một dân tộc có những phong tục tập quán, tín ngưỡng riêng tạo nên bản sắc Tây Nam Bộ vừa phong phú vừa rất độc đáo. Đây cũng là một trong những vùng trọng điểm về chính sách dân tộc của Nhà 17 nước ta hiện nay cũng như là vùng rất được quan tâm vào thời nhà Nguyễn về vấn đề dân tộc. Với đặc điểm địa hình đồng bằng với diện tích đất phù sa lớn, điều kiện tự nhiên, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Đồng bằng sông Cửu Long hội tụ mọi điều kiện để phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện.
Do những đặc điểm điều kiện tự nhiên địa hình khí hậu, nền kinh tế truyền thống lâu đời của người dân Tây Nam Bộ là kinh tế nông nghiệp. Hiện nay, Tây Nam Bộ trở thành vùng sản xuất nông nghiệp và thủy sản lớn nhất cả nước, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của nước ta. Về nông nghiệp, diện tích trồng lúa của vùng Tây Nam Bộ chiếm 47% diện tích và 56% sản lượng lúa cả nước, về thủy sản chiếm 70% diện tích nuôi trồng 40% sản lượng và 60% xuất khẩu trong cả nước [86]. các tỉnh giáp biên giới cũng có những đặc trưng kinh tế riêng, tỉnh An Giang chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng, nuôi trồng thủy sản và một số nghề thủ công truyền thống như dệt, mộc, đan lát, chạm khắc đá.
Người dân vùng biên giới các tỉnh Long An, Đồng Tháp, Kiên Giang sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, chăn nuôi, đánh bắt thủy hải sản. Trong đó, nông nghiệp trồng lúa là nghề truyền thống lâu đời của người dân vùng này. Trải qua quá trình khai phá, từng bước thích ứng với vùng đất này, cộng đồng các dân tộc của vùng có kinh nghiệm trồng lúa nước trên những loại địa hình khác nhau và chọn ra những giống lúa đặc trưng phù hợp với từng loại hình sinh thái. Họ đã cần cù, vượt khó khăn, thử thách của thiên nhiên đưa vùng trở thành nơi quan trọng cung cấp lương thực của nước ta thời nhà Nguyễn và là vùng trọng điểm lương thực lớn nhất cả nước hiện nay.
Sơ lƣợc quá trình khai phá và xác lập chủ quyền vùng đất Tây Nam bộ thời Nguyễn 18 1.