Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2012–2017 ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ của ngành thủy sản Việt Nam với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 54,3 tỷ USD. Riêng năm 2017, thủy sản Việt Nam đã hiện diện tại 167 thị trường quốc tế, mang về 8,32 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2016 và vượt xa chỉ tiêu 7 tỷ USD được giao. Giữ vị trí thứ 6 trong nhóm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực và chiếm 3,9% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, ngành thủy sản đóng vai trò trụ cột trong tăng trưởng GDP, ổn định cán cân thương mại và tạo việc làm cho hàng triệu lao động.

Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa trên số lượng đang đối mặt với nhiều rủi ro nghiêm trọng. Nguồn lợi hải sản ven bờ suy kiệt do phương thức khai thác tận diệt, công nghệ bảo quản sau thu hoạch lạc hậu khiến chất lượng nguyên liệu sụt giảm. Hoạt động nuôi trồng thủy sản tại nhiều địa phương phát triển tự phát, phá vỡ quy hoạch và gây ô nhiễm môi trường sinh thái. Cùng với đó, các rào cản thương mại quốc tế khắt khe như cảnh báo thẻ vàng của Ủy ban Châu Âu về chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định cùng Chương trình Giám sát Thủy sản Nhập khẩu của Hoa Kỳ đã đặt ra yêu cầu cấp bách về việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá toàn diện thực trạng hệ thống chính sách do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành trong giai đoạn 2013–2017, từ đó xác lập các giải pháp chiến lược nhằm bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định, đạt chuẩn quốc tế đến năm 2025. Nghiên cứu thực hiện trên phạm vi cả nước, hướng đến mục tiêu đạt sản lượng trên 8 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu vượt 14 tỷ USD và tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 4,0–4,5%/năm trong giai đoạn 2021–2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý kinh tế công và lý thuyết thất bại thị trường để lý giải vai trò can thiệp của Nhà nước vào chuỗi ngành hàng thủy sản. Trong điều kiện tự nhiên hữu hạn, tài nguyên biển là tài sản công dùng chung rất dễ rơi vào tình trạng khai thác quá mức nếu thiếu sự điều tiết vĩ mô. Nhà nước sử dụng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch vùng và các công cụ hỗ trợ tài chính để khắc phục các ngoại tác tiêu cực về môi trường, đồng thời kiến tạo môi trường cạnh tranh minh bạch cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp khung lý thuyết phát triển bền vững dựa trên ba trụ cột cân bằng: kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Về mặt kinh tế, chính sách phải nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Về mặt xã hội, chính sách hướng đến bảo đảm an toàn trên biển, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho hơn 850.000 ngư dân trực tiếp đánh bắt cùng các hộ nuôi trồng. Về mặt môi trường, các quy định pháp lý phải duy trì đa dạng sinh học và kiểm soát xả thải. Các khái niệm cốt lõi được định hình gồm: chính sách công ngành thủy sản, nguồn thủy sản xuất khẩu bền vững, liên kết chuỗi giá trị và truy xuất nguồn gốc sản phẩm theo chuẩn mực toàn cầu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử với các công cụ phân tích định tính và định lượng chuyên sâu. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ hệ thống văn bản quản lý nhà nước gồm 3 đạo luật trọng điểm (Luật Thủy sản, Luật Đầu tư, Luật Thú y), 26 Nghị định của Chính phủ, 14 Quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia và khoảng 40 Thông tư chuyên ngành do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành từ năm 2013 đến tháng 10/2018. Đồng thời, nghiên cứu khảo sát định tính chuyên gia theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích với 35 cán bộ quản lý, nhà khoa học tại Tổng cục Thủy sản, Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, Cục Xuất nhập khẩu và Hiệp hội VASEP.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp và kiểm chứng từ Niên giám thống kê quốc gia, cơ sở dữ liệu của Tổng cục Hải quan và các báo cáo thường niên giai đoạn 2013–2017. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh đối chiếu chỉ tiêu thực tế với mục tiêu quy hoạch được lựa chọn nhằm phát hiện chính xác khoảng trống giữa lý thuyết ban hành chính sách và hiệu quả vận hành thực tế. Timeline nghiên cứu tập trung vào phân tích giai đoạn 2013–2017 và xây dựng kịch bản dự báo chính sách cho giai đoạn 2020–2025, định hướng đến năm 2030.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tăng trưởng xuất khẩu tăng nhanh về giá trị nhưng tiềm ẩn mất cân đối cơ cấu nguyên liệu. Mặc dù kim ngạch năm 2017 đạt 8,32 tỷ USD với sự bứt phá của tôm và cá tra, tỷ trọng các mặt hàng giá trị gia tăng cao chỉ chiếm khoảng 50%, còn lại phần lớn vẫn là sản phẩm sơ chế đông lạnh thô. Ngành chế biến xuất khẩu ngày càng phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, ước tính nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu sẽ đạt khoảng 1 triệu tấn vào năm 2020 và tăng lên 2 triệu tấn vào năm 2030 để bù đắp thiếu hụt nội địa.

Thứ hai, cơ cấu đội tàu và chất lượng nguồn nhân lực khai thác chưa tương xứng với yêu cầu công nghiệp hóa. Cả nước có 109.622 tàu cá, tuy nhiên tỷ lệ tàu khai thác ven bờ và vùng lộng chiếm tới 82%, gây áp lực nghiêm trọng lên ngư trường gần bờ. Trong số gần 850.000 lao động khai thác trực tiếp, trình độ học vấn còn rất thấp: 8,4% chưa biết chữ, 55,2% chỉ tốt nghiệp tiểu học, 34,5% tốt nghiệp trung học cơ sở và chỉ có 0,1% qua đào tạo đại học hoặc cao đẳng. Điều này gây cản trở trực tiếp đến việc ứng dụng công nghệ hàng hải, ghi chép nhật ký khai thác và tuân thủ quy chuẩn quốc tế.

Thứ ba, tính dễ tổn thương của vùng nguyên liệu trước biến đổi khí hậu và rủi ro dịch bệnh. Điển hình trong đợt hạn mặn lịch sử năm 2016, chỉ riêng 3 tỉnh trọng điểm Cà Mau, Kiên Giang và Bạc Liêu đã có hơn 188.000 ha diện tích nuôi tôm bị thiệt hại nặng nề, làm đứt gãy cục bộ nguồn cung nguyên liệu cho các nhà máy chế biến.

Thứ tư, hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản xa bờ và quản lý chất lượng còn nhiều kẽ hở. Việc triển khai các gói tín dụng đóng mới tàu vỏ thép theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP phát sinh bất cập về chất lượng đóng tàu và năng lực vận hành của ngư dân, trong khi tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch trên tàu cá vẫn ở mức cao trên 20%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những tồn tại trên bắt nguồn từ năng lực xây dựng thể chế và năng lực dự báo thị trường của cơ quan quản lý đầu mối còn hạn chế; công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng kháng sinh, chất cấm trong nuôi trồng chưa thực sự quyết liệt. Về mặt khách quan, nguồn lực ngân sách bố trí cho hạ tầng cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão và trung tâm kiểm định giống còn eo hẹp.

Khi tổng hợp số liệu trên bảng so sánh hiện trạng khai thác so với mục tiêu tái cơ cấu ngành, có thể thấy rõ độ lệch lớn giữa sản lượng thực tế và định hướng bảo tồn. Nếu mô tả tương quan dữ liệu qua biểu đồ kết hợp giữa sản lượng khai thác ven bờ và tỷ lệ suy giảm nguồn lợi giai đoạn 2013–2017, đường biểu diễn cho thấy xu hướng khai thác vượt ngưỡng cân bằng sinh học đang diễn ra nhanh chóng. Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các cảnh báo quốc tế, khẳng định rằng nếu không chuyển đổi triệt để phương thức quản trị từ kiểm soát sản lượng sang quản lý hạn ngạch và tiêu chuẩn chất lượng, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ mất thị trường tại các quốc gia phát triển.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và nội luật hóa các cam kết quốc tế. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần phối hợp với Bộ Tư pháp rà soát toàn diện khoảng 40 Thông tư chuyên ngành, bãi bỏ các quy định chồng chéo về điều kiện kinh doanh vật tư nông nghiệp; cập nhật đầy đủ các quy định về chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định vào hệ thống văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật Thủy sản, hoàn thành trước năm 2021.

Thứ hai, tái cấu trúc đội tàu và kiểm soát cường lực khai thác hải sản. Tổng cục Thủy sản chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân 28 tỉnh, thành phố ven biển thực hiện lộ trình cắt giảm tổng số tàu cá từ 109.622 chiếc xuống còn 110.000 chiếc vào năm 2020 và tiếp tục giảm còn 95.000 chiếc vào năm 2030 (tương ứng mức giảm bình quân 1,5%/năm). Giảm tỷ lệ tàu cá ven bờ và vùng lộng từ 82% xuống 70% vào năm 2020; bắt buộc lắp đặt thiết bị giám sát hành trình cho 100% tàu cá hoạt động vùng khơi để kiểm soát ngư trường.

Thứ ba, chuẩn hóa vùng nuôi tập trung theo các tiêu chuẩn an toàn sinh học. Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản chỉ đạo nhân rộng mô hình nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng và cá tra đạt chuẩn VietGAP, GlobalGAP, ASC; phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% cơ sở nuôi chủ lực được cấp mã số nhận diện và áp dụng quy trình thực hành nuôi tốt, bảo đảm cung ứng 100% nhu cầu giống sạch bệnh, trong đó 75% là giống chất lượng cao.

Thứ tư, nâng cấp dịch vụ hậu cần và chuỗi liên kết giá trị gia tăng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Công Thương quy hoạch chi tiết và xây dựng 5 Trung tâm nghề cá lớn tại Hải Phòng, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu và Kiên Giang trước năm 2025. Nâng tỷ lệ tàu cá hoạt động theo mô hình tổ đội liên kết hậu cần biển lên 40%, áp dụng công nghệ bảo quản tiên tiến nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch xuống dưới 10% trong giai đoạn 2020–2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ hoạch định chính sách tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Thủy sản và Sở Nông nghiệp các địa phương có thể sử dụng luận văn làm tài liệu căn cứ để rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hoàn thiện cơ chế quản lý hạn ngạch tàu cá.

Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản và Hiệp hội VASEP có thể khai thác các phân tích về xu hướng rào cản kỹ thuật quốc tế (thẻ vàng, chương trình giám sát chất lượng) để xây dựng vùng nguyên liệu khép kín, đầu tư công nghệ chế biến tinh và thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc đạt chuẩn.

Nhóm giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Quản lý thương mại và Kinh tế nông nghiệp có thể sử dụng công trình này như một nguồn tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp đánh giá chính sách công, khung lý thuyết phát triển bền vững và chuỗi số liệu thứ cấp đáng tin cậy giai đoạn 2013–2017.

Nhóm ban quản lý các Hợp tác xã, Tổ hợp tác khai thác và cộng đồng ngư dân, người nuôi trồng thủy sản có thể tham khảo các mô hình liên kết sản xuất chuỗi giá trị, quy trình nuôi đạt chứng nhận an toàn và phương thức tiếp cận các chính sách hỗ trợ vốn, bảo hiểm nông nghiệp từ Nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam giai đoạn đến năm 2025 được xác định như thế nào? Theo định hướng hoàn thiện chính sách, ngành thủy sản đặt mục tiêu đạt tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân 4,0–4,5%/năm trong giai đoạn 2021–2025. Tổng sản lượng thủy sản toàn quốc dự kiến đạt trên 8 triệu tấn và giá trị kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 14 tỷ USD vào năm 2025.

Tại sao chính sách quản lý cần phải giảm dần số lượng tàu cá hoạt động ven bờ? Số lượng tàu cá ven bờ và vùng lộng hiện chiếm tới 82% tổng số hơn 109.000 tàu trên cả nước, gây nên tình trạng khai thác quá mức và suy giảm đa dạng sinh học. Chính sách cắt giảm tàu cá xuống còn 95.000 chiếc vào năm 2030 nhằm phục hồi nguồn lợi sinh thái và chuyển dịch cơ cấu sang đánh bắt xa bờ bền vững.

Nguyên nhân chính khiến các lô hàng thủy sản xuất khẩu bị cảnh báo tại thị trường quốc tế là gì? Nguyên nhân chủ yếu do việc kiểm soát dư lượng kháng sinh, tạp chất và hóa chất trong khâu nuôi trồng chưa đồng bộ, cùng với các vi phạm về quy định đánh bắt không báo cáo theo tiêu chuẩn châu Âu và chương trình giám sát của Hoa Kỳ.

Nghị định số 67/2014/NĐ-CP đã mang lại những tác động chính sách nào cho ngư dân? Nghị định ban hành các cơ chế hỗ trợ lãi suất tín dụng, hỗ trợ bảo hiểm thân tàu và thuyền viên, cung cấp kinh phí bảo dưỡng và khuyến khích đóng mới tàu công suất lớn vỏ thép, giúp ngư dân yên tâm vươn khơi bám biển và nâng cao năng lực khai thác xa bờ.

Ngành chế biến thủy sản Việt Nam cần giải pháp gì để khắc phục tình trạng thiếu hụt nguyên liệu? Giải pháp cốt lõi là tổ chức lại các vùng nuôi công nghiệp tập trung quy mô lớn đạt chứng nhận VietGAP, tăng cường liên kết chuỗi giữa nhà máy và nông dân, đồng thời chủ động quy hoạch nguồn nguyên liệu nhập khẩu hợp pháp với quy mô dự kiến khoảng 2 triệu tấn vào năm 2030.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước và phát triển bền vững ngành thủy sản xuất khẩu trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường.
  • Phân tích bức tranh thực trạng ngành giai đoạn 2013–2017 với kim ngạch 8,32 tỷ USD, chỉ rõ những điểm nghẽn về chất lượng lao động (8,4% chưa biết chữ) và cơ cấu 82% tàu cá hoạt động ven bờ.
  • Nhận diện các tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu (thiệt hại hơn 188.000 ha tôm năm 2016) cùng áp lực từ các rào cản kỹ thuật quốc tế đối với uy tín thủy sản Việt Nam.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với lộ trình giảm số lượng tàu cá về mức 95.000 chiếc vào năm 2030 và giảm tổn thất sau thu hoạch xuống dưới 10%.
  • Định hình lộ trình hành động giai đoạn 2021–2025 tập trung tháo gỡ thẻ vàng quốc tế, chuẩn hóa vùng nuôi an toàn sinh học và kiến tạo giá trị gia tăng vượt bậc cho ngành hàng.

Để hiện thực hóa mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 14 tỷ USD vào năm 2025, các cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và người sản xuất cần khẩn trương phối hợp chặt chẽ, đẩy mạnh thực thi chính sách đồng bộ và chuẩn hóa chuỗi giá trị theo tiêu chuẩn quốc tế ngay từ hôm nay.