Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ khoa học lịch sử “Chính quyền Việt Nam Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1973-1975” do nghiên cứu sinh Trần Văn Đại Lợi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Đình Lê, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62.13), hoàn thành năm 2017.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Lịch sử chiến tranh Việt Nam (1954-1975) và sự tồn tại của chính thể Việt Nam Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam là chủ đề thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước suốt nhiều thập kỷ. Mặc dù đã có nhiều công trình công bố về các giai đoạn khác nhau, các cách lý giải về sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn năm 1975 vẫn tồn tại nhiều điểm bất đồng. Một bộ phận tác giả nước ngoài, đặc biệt là các chính trị gia và tướng lĩnh Mỹ, thường quy nguyên nhân cho sự yếu kém nội tại của chính quyền Sài Gòn. Ngược lại, nhiều tác phẩm của các nhân vật từng phục vụ trong bộ máy Việt Nam Cộng hoà lại cho rằng nguyên nhân chính là việc Mỹ cắt giảm viện trợ và bỏ rơi đồng minh. Đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có một công trình nào khảo cứu một cách toàn diện, có hệ thống về cơ cấu tổ chức, hoạt động và sự khủng hoảng đi đến sụp đổ của nền Đệ nhị Cộng hoà trong hai năm cuối cùng (1973-1975) dựa trên các nguồn tài liệu lưu trữ gốc.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là làm rõ những nỗ lực thay đổi tình thế của chính quyền Việt Nam Cộng hoà trong những năm 1973-1975; sự khủng hoảng toàn diện và tính tất yếu sụp đổ của chính quyền này trước sức mạnh của lực lượng cách mạng vào tháng 4-1975.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Văn bản xác định 5 nhiệm vụ khoa học cụ thể:
- Xây dựng những nét cơ bản về hệ thống cơ cấu tổ chức của bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hoà (1967-1975), trên cơ sở đó phân tích các chính sách, hoạt động của chính quyền trong những năm 1973-1975 trên tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, quân sự.
- Phân tích và làm rõ các nhân tố đưa đến sự khủng hoảng của chính quyền Đệ nhị Cộng hoà trong những năm 1973-1975.
- Chứng minh tính phụ thuộc của chính quyền Đệ nhị Cộng hoà vào nguồn lực bên ngoài, đồng thời làm rõ tính chất bất bình đẳng trong mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam Cộng hoà.
- Trên cơ sở các hoạt động của chính quyền Việt Nam Cộng hoà trong những năm 1973-1975, chỉ ra những nỗ lực tự thân của chính quyền này khi nguồn viện trợ bên ngoài bị cắt giảm.
- Chỉ ra tính chất tất yếu sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng hoà vào tháng 4-1975.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính quyền Việt Nam Cộng hoà trong giai đoạn 1973-1975, tập trung vào hai vấn đề chính: những nỗ lực trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế để vượt qua tình trạng khủng hoảng và tính chất tất yếu sụp đổ vào tháng 4-1975.
- Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ năm 1973 đến năm 1975. Các giai đoạn trước năm 1973 (từ năm 1967) được đề cập nhằm phục vụ việc phân tích có hệ thống về cơ cấu thể chế.
- Phạm vi không gian: Địa bàn miền Nam Việt Nam trong vùng lãnh thổ thuộc quyền quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hoà theo quy định của Hiệp định Paris ngày 27-01-1973, gồm 44 tỉnh và Đô thành Sài Gòn, được phân bố theo 4 Vùng chiến thuật:
| Vùng chiến thuật |
Phạm vi địa lý và đơn vị hành chính quản lý |
| Vùng I chiến thuật |
Các tỉnh cực Bắc: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi; cùng 2 thị xã Huế và Đà Nẵng. |
| Vùng II chiến thuật |
Các tỉnh cao nguyên: Kontum, Plei Ku, Đắk Lắk, Quảng Đức, Phú Bổn, Tuyên Đức, Lâm Đồng; 5 tỉnh duyên hải: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận. |
| Vùng III chiến thuật |
Các tỉnh: Bình Long, Phước Long, Long Khánh, Bình Tuy, Tây Ninh, Biên Hoà, Phước Tuy, Long An, Hậu Nghĩa, Gia Định; Đô thành Sài Gòn và đặc khu Rừng Sát. |
| Vùng IV chiến thuật |
16 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: Kiến Phong, Kiến Tường, Định Tường, Gò Công, Kiến Hoà, Sa Đéc, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Châu Đốc, An Giang, Kiên Giang, Chương Thiện, Phong Dinh, Ba Xuyên, Bạc Liêu, An Xuyên. |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã tiến hành phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo từng nhóm chủ đề chuyên biệt.
HỆ THỐNG TÀI LIỆU THAM KHẢO CỦA LUẬN ÁN
CÁC CÔNG TRÌNH TRONG NƯỚC CÁC CÔNG TRÌNH NƯỚC NGOÀI
- Tư tưởng - văn hoá (Phong Hiền) - Phân tích chiến tranh (Gabriel Kolko)
- Viện trợ kinh tế (Đặng Phong) - Hồi ký chính khách (Robert McNamara)
- Quan hệ Mỹ - VNCH (Trần Trọng Trung) - Hoạt động tình báo (Frank Snepp)
- Lịch sử chiến trường (Lịch sử Nam bộ...) - Ngoại giao Hiệp định Paris (Larry Berman)
- Văn kiện lưu trữ gốc (TTLTQG II) - Khảo sát tổng thể (George C. Herring)
- Hồi ký nhân vật (Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Tiến Hưng) - Ngoại giao chiến lược (Pierre Asselin)
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Nghiên cứu văn hoá - tư tưởng: Công trình “Chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam Việt Nam (khía cạnh tư tưởng và văn hoá 1954-1975)” của Phong Hiền (1984, NXB Thông tin lý luận) phân tích các chính sách văn hoá, giáo dục, tôn giáo và các loại hình văn học, báo chí tại miền Nam.
- Nghiên cứu kinh tế và viện trợ: Tác phẩm “21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam” của GS. Đặng Phong (1991, Viện Nghiên cứu khoa học thị trường và giá cả) chỉ ra 4 đặc điểm của viện trợ Mỹ (số lượng lớn, thay đổi theo cường độ chiến tranh, phần lớn là viện trợ quân sự, viện trợ cho không hầu như không phổ biến) và các hình thức viện trợ (quân sự trực tiếp, thương mại hoá, dự án, nông phẩm, cho vay).
- Nghiên cứu quan hệ Mỹ - Sài Gòn: Cuốn “Nhà Trắng với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam” của Trần Trọng Trung (2005, NXB Chính trị Quốc gia) phân tích 15 chương về tiến trình hoạch định chính sách của Washington, làm rõ sự phụ thuộc của Sài Gòn vào Mỹ trong hai năm 1973-1975.
- Nghiên cứu lịch sử kháng chiến và tổng kết chiến tranh:
- Bộ sách “Lịch sử Nam bộ kháng chiến” (4 tập, 2010-2012, NXB Chính trị Quốc gia), đặc biệt là chương 10 và 11 của tập 2, làm rõ chuyển biến chiến trường và chính trường miền Nam giai đoạn 1973-1975.
- Bộ sách 9 tập “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975” (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, 1995-2013).
- “Hồi ký: Gia đình, bạn bè và đất nước” của Nguyễn Thị Bình (2012, NXB Tri thức) phản ánh diễn biến đàm phán tại Hội nghị Paris.
- Nghiên cứu chuyên khảo trên tạp chí:
- Ngô Phương Bá (1977), “Cơ cấu chính quyền thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6.
- Quỳnh Cư (1977), “Mấy nét về cơ sở giai cấp của nguỵ quyền Sài Gòn thời kỳ 1954-1975”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6, chỉ ra sự chuyển dịch cơ sở xã hội từ giai cấp địa chủ thời Ngô Đình Diệm sang giai cấp tư sản mại bản thời Nguyễn Văn Thiệu.
- Nguyễn Đình Lê (2013), “Năm tháng bản lề của Đại thắng mùa Xuân năm 1975”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 7, phân tích sự chuẩn bị về tư tưởng (Nghị quyết 21), thăm dò đối phương (Tống Lê Chân, Watergate, Phước Long), củng cố quân sự và hậu cần.
- Công bố tư liệu lưu trữ:
- Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II: “Về đại thắng mùa Xuân năm 1975 qua tài liệu chính quyền Sài Gòn” (2010) và “Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn” (2 tập, 2012).
- Tác phẩm của nhân sự thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hoà:
- Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter: “Từ toà Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập” (1990) và “Hồ sơ mật Dinh Độc lập” (2003).
- Nguyễn Tiến Hưng: “Tâm tư Tổng thống Thiệu” (2010, Cơ sở Hứa Chấn Minh) phân tích trách nhiệm của các tướng lĩnh trong việc rút quân và sự cắt giảm viện trợ của Mỹ.
Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài
- Gabriel Kolko (1985, bản dịch tiếng Việt 1991, 2003): “Giải phẫu một cuộc chiến tranh”, phân tích giới hạn quyền lực của Mỹ và tính tất yếu thất bại của chính quyền Sài Gòn.
- Robert McNamara (1995): “Nhìn lại quá khứ, tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam” (Random House), giải thích quyết định leo thang chiến tranh từ 1961 đến 1968.
- Frank Snepp (2000): “Cuộc tháo chạy toán loạn” (NXB TP. Hồ Chí Minh), phản ánh mâu thuẫn nội bộ giữa Nhà Trắng - Quốc hội Mỹ, Đại sứ quán Mỹ - CIA và sự hỗn loạn trong cuộc di tản năm 1975.
- Larry Berman (2003): “No Peace, No Honor” (bản dịch tiếng Việt: “Không hoà bình, chẳng danh dự, Nixon, Kissinger và sự phản bội ở Việt Nam”), làm rõ việc Hiệp định Paris không đem lại hoà bình thực sự mà đặt chính quyền Sài Gòn vào thế bị động.
- Paul Dreyfus (2004): “Sài Gòn sụp đổ” (NXB Công an Nhân dân), ghi chép các hiện tượng suy thoái xã hội và khủng hoảng chính trị tại Sài Gòn giai đoạn 1973-1975.
- George C. Herring (1979, tái bản 1985, bản dịch 2004): “Cuộc chiến tranh dài ngày của nước Mỹ và Việt Nam (1950-1975)”, phân tích tiến trình can thiệp của Mỹ từ năm 1950.
- Pierre Asselin (2005): “Nền hoà bình mong manh, Washington, Hà Nội và tiến trình của Hiệp định Paris”, phân tích vai trò của ngoại giao trong việc định hình các chiến dịch quân sự.
Khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù các tài liệu trên đã phản ánh nhiều khía cạnh của cuộc chiến, phần lớn các công trình chưa đi sâu vào khảo sát hệ thống thể chế hành chính, các biện pháp điều hành kinh tế - xã hội tự thân và cơ chế sụp đổ nội tại của chính quyền Đệ nhị Cộng hoà trong giai đoạn hẹp 1973-1975. Luận án đặt vị trí nghiên cứu vào việc giải quyết khoảng trống này bằng cách tổng hợp và đối chiếu tài liệu lưu trữ từ các bên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Luận án được thực hiện trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chính quyền và chiến tranh cách mạng, xem xét sự vận động của các thiết chế chính trị trong mối quan hệ biện chứng với điều kiện kinh tế, xã hội và tương quan lực lượng quân sự trên chiến trường.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chuyên ngành: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được sử dụng xuyên suốt nhằm tái hiện tiến trình biến đổi của chính quyền Việt Nam Cộng hoà theo trình tự thời gian, đồng thời khái quát hóa bản chất và quy luật vận động dẫn đến sự sụp đổ của chế độ.
- Phương pháp liên ngành: Tác giả kết hợp phương pháp thống kê xã hội học, phân tích định lượng dữ liệu hành chính - kinh tế, tổng hợp tư liệu văn bản và phương pháp so sánh đối chiếu giữa các nguồn tài liệu lưu trữ khác nhau.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Tài liệu lưu trữ gốc:
- Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh): Các phông tài liệu của Phủ Tổng thống (PTT), Phủ Thủ tướng (PTTg), Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (UNLĐQG), Quốc hội và các Bộ ngành của chính quyền Sài Gòn.
- The Vietnam Center and Archive thuộc Đại học Texas Tech (Mỹ).
- Tài liệu giải mật của Bộ Ngoại giao Mỹ (The US Department of State).
- Tài liệu nghiên cứu và xuất bản phẩm: Các tập văn kiện lịch sử, công báo, tạp chí chuyên ngành, hồi ký của các chính trị gia, tướng lĩnh và ấn phẩm nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hoá toàn bộ các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo hai khối: các tác giả trong nước và các tác giả nước ngoài. Tác giả chỉ ra các góc độ tiếp cận chủ yếu gồm văn hoá - tư tưởng, viện trợ kinh tế, quân sự chiến dịch, ngoại giao đàm phán và phân tích cơ cấu giai cấp. Trên cơ sở chỉ rõ những nội dung đã được giải quyết và những vấn đề còn bỏ ngỏ hoặc tồn tại tranh luận, chương 1 xác định 4 nhiệm vụ khoa học chính mà luận án cần hoàn thành:
- Thu thập, xử lý và phân loại tài liệu lưu trữ gốc trong và ngoài nước liên quan đến giai đoạn 1973-1975.
- Kế thừa và đối sánh các kết quả nghiên cứu đã công bố.
- Làm sáng tỏ hoạt động của hệ thống chính quyền, những biểu hiện suy yếu, các nỗ lực tự thân và nguyên nhân sụp đổ năm 1975.
- Đưa ra nhận định khách quan về diễn trình lịch sử và di sản của chế độ.
Chương 2: Cơ cấu tổ chức và những yếu tố tác động đến chính quyền Việt Nam Cộng hoà (1973-1975)
Chương 2 phân tích bối cảnh ra đời của nền Đệ nhị Cộng hoà năm 1967 sau giai đoạn khủng hoảng chính trị quân quản (1963-1967).
Về cơ sở pháp lý và tiến trình thành lập:
- Ngày 06-05-1966, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương) ban hành Sắc lệnh số 75-SL/HC/PC lập Ủy ban soạn thảo Dự án Sắc luật bầu cử Quốc hội Lập hiến.
- Ngày 19-06-1966, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu (Chủ tịch UBLĐQG) ký Sắc luật số 21/26 và 22/26; ngày 22-07-1966 ký tiếp Sắc luật số 28/66 ấn định thể thức bầu cử.
- Ngày 11-09-1966, cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến diễn ra, bầu được 117 dân biểu (gồm 16 thuộc Sài Gòn - Gia Định, 17 thuộc Vùng 1, 20 thuộc Vùng 2, 25 thuộc Vùng 3, 30 thuộc Vùng 4 và 9 đại diện đồng bào Thượng).
- Ngày 18-03-1967, Quốc hội Lập hiến thông qua dự thảo Hiến pháp gồm 9 Chương, 117 Điều. Ngày 27-03-1967, Đại hội đồng Quân lực họp và quyết nghị ban hành. Ngày 01-04-1967, Hiến pháp được chính thức công bố. Hiến pháp này được tu chính một lần theo Luật số 001/74 ngày 22-01-1974.
- Ngày 03-09-1967, bầu cử Tổng thống với 11 liên danh tham gia; liên danh Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ đắc cử với gần 35% tổng số phiếu.
Về cấu trúc bộ máy nhà nước:
- Nguyên tắc tổ chức: Phân chia ba quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp và các cơ quan tư vấn đặc biệt.
- Lập pháp (Quốc hội): Gồm Hạ Nghị Viện và Thượng Nghị Viện. Hạ Nghị Viện khoá I (1967-1971) có 137 dân biểu (Chủ tịch: Nguyễn Bá Lương); khoá II (1971-1975) có 159 dân biểu (Chủ tịch: Nguyễn Bá Cẩn), hoạt động qua 18 Ủy ban thường trực, đặt trụ sở tại Công trường Lam Sơn. Thượng Nghị Viện có 60 nghị sĩ với nhiệm kỳ 6 năm (mỗi 3 năm bầu lại một nửa, Chủ tịch: Nguyễn Văn Huyền), trụ sở tại Hội trường Diên Hồng.
- Chính sách của Mỹ: Giai đoạn 1967-1969 duy trì Chiến tranh cục bộ; từ năm 1969 chuyển sang chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh theo Học thuyết Nixon, chuyển gánh nặng tác chiến cho quân đội Sài Gòn.
- Các yếu tố tác động giai đoạn 1973-1975: Việc ký kết Hiệp định Paris (1973), việc Mỹ rút quân và cắt giảm viện trợ quân sự, tài chính, sự đình trệ kinh tế đô thị và sự phát triển thế chủ động của lực lượng cách mạng.
Chương 3: Hoạt động và sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng hoà (1973-1975)
Chương 3 trình bày các mảng hoạt động thực tế và quá trình sụp đổ:
- Cải tổ hành chính: Sắp xếp lại các bộ máy công quyền, tái cơ cấu nội các, ban hành các chính sách tiết giảm ngân sách và tinh giản biên chế.
- Hoạt động đối ngoại: Vận động ngoại giao nhằm tìm kiếm các nguồn viện trợ quốc tế mới để bù đắp vào phần thâm hụt do Mỹ cắt giảm, duy trì sự gắn kết với các đồng minh.
- Kinh tế - xã hội: Thực thi các chương trình kinh tế, chính sách xuất nhập cảng, đối phó với lạm phát, giải quyết vấn đề di dân và người tị nạn chiến tranh.
- Quân sự: Củng cố lực lượng sau khi quân đội đồng minh rút lui, tổ chức các cuộc hành quân lấn chiếm nhằm mở rộng vùng kiểm soát trước sức ép của lực lượng giải phóng.
- Khủng hoảng toàn diện: Sự suy sụp nhanh chóng trên mặt trận chính trị do phân hoá nội bộ, khủng hoảng kinh tế do thiếu hụt tài chính, dẫn đến sự tan rã về mặt quân sự từ thất thủ Phước Long (01-1975), Buôn Mê Thuột (03-1975), sụp đổ tuyến phòng thủ miền Trung và kết thúc bằng sự kiện ngày 30-04-1975.
Chương 4: Đặc điểm, nguyên nhân sụp đổ và những di sản của chính quyền Việt Nam Cộng hoà (1973-1975)
Chương 4 đúc kết các nội dung lý luận và thực tiễn:
- Đặc điểm hoạt động:
- Tính chất độc tài phát triển cao độ trong bộ máy lãnh đạo.
- Quân lực Việt Nam Cộng hoà phải tác chiến độc lập trong tâm lý bị cưỡng ép và hoang mang.
- Duy trì tình trạng chiến tranh như một công cụ sống còn để duy trì sự tồn tại của chế độ.
- Đánh dấu sự “đứt gãy” sâu sắc trong mối quan hệ đồng minh giữa Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
- Sự thức tỉnh và thắng thế của ý thức dân tộc trong một bộ phận nhân sự thuộc chính quyền và quân đội Sài Gòn.
- Nguyên nhân sụp đổ: Kết hợp nguyên nhân chủ quan (bản chất phụ thuộc, tệ nạn tham nhũng, chia rẽ nội bộ, thiếu cơ sở quần chúng vững chắc) và nguyên nhân khách quan (sự lãnh đạo và sức mạnh tiến công của lực lượng cách mạng, sự thay đổi chiến lược toàn cầu của Mỹ).
- Di sản: Nhìn nhận khách quan các di sản về mặt thể chế hành chính, kinh tế, giáo dục và quy hoạch đô thị mà chính quyền này để lại sau năm 1975.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án nêu rõ 5 đóng góp mới về mặt khoa học lịch sử:
- Làm rõ cơ cấu tổ chức và phương thức vận hành: Trình bày có hệ thống cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và thực tế hoạt động của bộ máy chính quyền Đệ nhị Cộng hoà trong giai đoạn khủng hoảng 1973-1975.
- Chứng minh tính chất bất bình đẳng trong quan hệ ngoại giao: Cung cấp nguồn dữ liệu lưu trữ xác thực làm rõ bản chất phụ thuộc của chính quyền Sài Gòn vào nguồn lực Mỹ và tính chất bất bình đẳng trong mối quan hệ này, đặc biệt khi viện trợ bị cắt giảm sau năm 1973.
- Phân tích các nỗ lực tự thân: Khảo sát một góc độ tiếp cận mới khi làm rõ những cố gắng điều chỉnh chính sách, cải tổ hành chính và kinh tế của giới lãnh đạo Việt Nam Cộng hoà trong nỗ lực tự cứu vãn chế độ ở giai đoạn cuối.
- Lý giải tính tất yếu sụp đổ: Xâu chuỗi các sự kiện lịch sử, phân tích mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố quân sự, chính trị, kinh tế để khẳng định sự sụp đổ vào tháng 4-1975 là một tất yếu lịch sử.
- Đánh giá khách quan về di sản: Bước đầu đưa ra những phân tích, nhìn nhận khách quan về các mặt di sản của chính quyền Việt Nam Cộng hoà trên các lĩnh vực thể chế, giáo dục và quản lý xã hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi thời gian hẹp (1973-1975) và giới hạn không gian trên vùng lãnh thổ do chính quyền Sài Gòn quản lý theo Hiệp định Paris (44 tỉnh và Đô thành Sài Gòn). Trọng tâm nghiên cứu đặt vào bộ máy chính quyền trung ương và các quyết sách vĩ mô, chưa thể bao quát chi tiết đời sống kinh tế - xã hội vi mô ở từng địa phương.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối sánh hồ sơ lưu trữ giữa các địa phương thuộc 4 Vùng chiến thuật; khai thác sâu hơn các khối tài liệu lưu trữ quốc tế về quan hệ ngoại giao đa phương của Việt Nam Cộng hoà giai đoạn 1973-1975 khi các kho lưu trữ tiếp tục giải mật.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên ngành Lịch sử: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có hệ thống về giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là phương pháp tiếp cận và khai thác các nguồn tài liệu lưu trữ gốc tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II và các trung tâm lưu trữ quốc tế.
- Đối với chuyên ngành Quan hệ Quốc tế và Khoa học Chính trị: Là tài liệu tham khảo phục vụ việc phân tích bản chất của quan hệ đồng minh bất bình đẳng, cơ chế phụ thuộc viện trợ và tác động của chiến lược các nước lớn đối với các chính quyền phụ thuộc.
- Đối với công tác hoạch định chính sách: Cung cấp các cứ liệu lịch sử thực chứng về quản trị hành chính, cải tổ bộ máy công quyền và bài học về tính tự chủ trong phát triển kinh tế - xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu Lập pháp của chính quyền Đệ nhị Cộng hoà được quy định như thế nào trong Hiến pháp 1967?
Theo Điều 30 và Điều 39 Hiến pháp ngày 01-04-1967, quyền lập pháp thuộc về Quốc hội gồm hai viện: Hạ Nghị Viện và Thượng Nghị Viện. Hạ Nghị Viện do dân biểu bầu theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp, nhiệm kỳ 4 năm (Khoá I: 137 dân biểu, Khoá II: 159 dân biểu, hoạt động qua 18 Ủy ban thường trực). Thượng Nghị Viện gồm 60 nghị sĩ do cử tri toàn quốc bầu theo liên danh, nhiệm kỳ 6 năm, mỗi 3 năm bầu lại một nửa số ghế.
2. Các văn bản pháp lý ban đầu nào đặt nền móng cho việc ban hành Hiến pháp ngày 01-04-1967?
Tiến trình pháp lý bắt đầu từ Sắc lệnh số 75-SL/HC/PC ngày 06-05-1966 thành lập Ủy ban soạn thảo dự án thể thức bầu cử Quốc hội Lập hiến. Tiếp đó, Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia ban hành Sắc luật số 21/26 và 22/26 ngày 19-06-1966 và Sắc luật số 28/66 ngày 22-07-1966. Sau cuộc bầu cử ngày 11-09-1966, Quốc hội Lập hiến soạn thảo và biểu quyết dự thảo Hiến pháp vào ngày 18-03-1967, được Đại hội đồng Quân lực thông qua ngày 27-03-1967 trước khi ban hành chính thức.
3. Những đặc điểm nổi bật trong hoạt động của chính quyền Việt Nam Cộng hoà giai đoạn 1973-1975 được luận án xác định là gì?
Luận án chỉ ra 5 đặc điểm chính trong chương 4:
- Tính chất độc tài phát triển cao độ trong cơ cấu quyền lực.
- Quân lực Việt Nam Cộng hoà phải tác chiến độc lập trong tâm lý cưỡng ép.
- Chính quyền sử dụng tình trạng chiến tranh để duy trì sự tồn tại của chế độ.
- Xuất hiện sự “đứt gãy” sâu sắc trong quan hệ ngoại giao Mỹ - Việt Nam Cộng hoà.
- Ý thức dân tộc thắng thế trong một bộ phận nhân sự thuộc chính quyền Sài Gòn.
4. Nguồn tài liệu lưu trữ chính được tác giả khai thác bao gồm những cơ quan nào?
Tác giả khai thác nguồn tài liệu lưu trữ gốc từ ba địa chỉ chính: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II tại TP. Hồ Chí Minh (các phông Phủ Tổng thống, Phủ Thủ tướng, Quốc hội), Trung tâm Lưu trữ Việt Nam (The Vietnam Center and Archive) tại Đại học Texas Tech và tài liệu của Bộ Ngoại giao Mỹ (The US Department of State).
Kết luận
Luận án “Chính quyền Việt Nam Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1973-1975” của Trần Văn Đại Lợi là công trình lịch sử chuyên khảo làm rõ cơ cấu tổ chức, hoạt động và sự sụp đổ của nền Đệ nhị Cộng hoà trong hai năm cuối cùng của cuộc chiến tranh. Dựa trên việc khai thác nguồn tài liệu lưu trữ gốc đa dạng, tác giả đã phân tích toàn diện các nỗ lực cải tổ hành chính, đối ngoại và quân sự của chính quyền Sài Gòn khi bị cắt giảm viện trợ. Công trình chứng minh tính chất phụ thuộc ngoại viện, sự bất bình đẳng trong quan hệ Mỹ - Sài Gòn, đồng thời khẳng định sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ vào tháng 4-1975 là hệ quả tất yếu dưới tác động của các mâu thuẫn nội tại kết hợp với sức mạnh tiến công của lực lượng cách mạng.