Chương I: Chính quyền Sài Gòn với Hiệp định Pari năm 1973; Chương II: Từ thất thủ Phước Long đến phòng tuyến Phan Rang; Chương III: Từ cửa tử Xuân Lộc đến sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền Sài Gòn. Không đi sâu vào phân tích, đánh giá các sự kiện, công trình tập trung cung cấp những dữ liệu còn “nguyên”, “thô”, những văn bản đánh máy và viết tay được ban hành dưới chế độ Việt Nam Cộng hoà. Trong chương 17 một, những văn bản về các bài thuyết trình của Tổng thống Thiệu trước nhân dân miền Nam, thông cáo chung của Tổng thống Thiệu và Tổng thống Nixon sau cuộc hội kiến tại San Clemente hay những kế hoạch về tái thiết quốc gia…được dẫn ra như các minh chứng về hành động cố tình đi ngược lại quyết định của Hiệp định Paris về Việt Nam của chính quyền Đệ nhị Cộng hoà. Trong chương 2 và chương 3, công trình tiếp tục công bố những văn bản về các chỉ thị, tuyên cáo, quyết định của chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hoà ứng phó lại với các cuộc tiến công quyết liệt của lực lượng cách mạng trong những thời điểm quan trọng như: trận Phước Long (1/1975), chiến dịch Buôn Mê Thuột (3/1975)… Đặc biệt, sự rối loạn của Việt Nam Cộng hoà trong những giờ khắc cuối cùng được tái hiện chân thực qua các tư liệu như: Bản diễn văn từ chức của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hay quyết định thành lập nội các mới… Mặc dù số lượng tài liệu công bố là chọn lọc và chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với những tài liệu được lưu trữ nhưng công trình đã bước đầu cho phép người đọc tiếp cận với những tài liệu quý, nguyên bản và không mang những dấu ấn chủ quan của người nghiên cứu như những công trình khác.
Cuối năm 2012, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II - Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước phối hợp với NXB Chính trị Quốc gia đã tổ chức biên soạn và xuất bản cuốn sách “Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn”. Công trình được ấn bản thành 2 tập: tập 1 “Đánh và đàm”, tập 2 “Ký kết và thực thi”. Sự kiện ký kết Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình, thống nhất ở Việt Nam (27/1/1973) đã trở thành một “tiêu điểm” khi các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu về cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng hoà (1954-1975). Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh, Hiệp định Paris về Việt Nam không chỉ đơn thuần là một văn bản ngoại giao.
Có thể nói, sự kiện này là trục chính điều phối sự biến chuyển về các quyết định quân sự-chính trị của cả hai bên. Quá trình đấu tranh, giằng co của cả hai bên để đi đến ký kết một hiệp định ngoại giao; Nội dung cơ bản, nguyên tắc, cơ cấu thực thi Hiệp định Paris và những âm mưu, hành động phá hoại hiệp định của phía Việt Nam Cộng hoà đã được công trình “Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn” khôi phục lại thông qua nguồn tài liệu 18 lưu trữ. Cũng như công trình “Về đại thắng mùa Xuân năm 1975 qua tài liệu chính quyền Sài Gòn” được xuất bản năm 2010, lần này nhóm tác giả của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II vẫn tôn trọng nguyên tắc không để những quan điểm chủ quan của người biên soạn chi phối tác phẩm. Tính chân thực của lịch sử được nhóm biên soạn đảm bảo khi cho đăng nguyên văn nội dung những văn bản của chính quyền Việt Nam Cộng hoà, tự bản thân những văn bản đó đã nói rõ lên âm mưu và bản chất của chính quyền trong cố gắng đi ngược lại xu hướng phát triển tiến bộ của dân tộc.
Chính nhờ đó, một lần nữa người đọc có cơ hội để tự chiêm nghiệm, phân tích về chính quyền Việt Nam Cộng hoà dựa trên những tư liệu gốc, khách quan nhất. Các nhà nghiên cứu, những người quan tâm đến vấn đề miền Nam Việt Nam, vấn đề Việt Nam Cộng hoà những năm 1954-1975, ngày càng có nhiều điều kiện hơn để kiểm nghiệm và đối sánh các sự kiện lịch sử khi các xuất bản của những người trong cuộc (những cá nhân đã phục vụ dưới chính quyền Việt Nam Cộng hoà) ra đời ngày càng nhiều. Năm 1990, NXB Trẻ phát hành ấn phẩm “Từ toà Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập” của hai tác giả TS Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, công trình này đã đưa đến một số tư liệu mới, quan điểm tranh luận mới đối với các nhà nghiên cứu quan tâm đến số phận của chính quyền Đệ nhị Cộng hoà.
Đặc biệt tình trạng của chính quyền này và mối quan hệ với Mỹ trong những tháng ngày cuối cùng trước khi sụp đổ. Việc hé lộ những tư liệu được coi là tối mật như hàng chục lá thư trao đổi giữa Tổng thống Thiệu và Tổng thống Nixon, cũng như những cam kết mật giữa Tổng thống Thiệu với Tổng thống Nixon và người kế nhiệm Gerald Ford đã cho phép độc giả có được các phân tích, lý giải xác đáng hơn về những trạng huống chính trị và các động thái, xử thế của chính quyền Việt Nam Cộng hoà trong những ngày cuối cùng tồn tại. Các tài liệu được công bố không chỉ mô tả được sự cố gắng và nỗ lực trong tuyệt vọng của nền Đệ nhị Cộng hoà trong việc kêu gọi, thuyết phục người đồng minh Mỹ tiếp tục giúp đỡ, viện trợ, mà bản thân những tư liệu này còn là một minh chứng cho sự bế tắc, phụ thuộc của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Tiếp theo công trình này, tác giả Nguyễn Tiến Hưng tiếp tục nghiên cứu và cho ra đời nhiều ấn phẩm khác 19 về Chính quyền Đệ nhị Cộng hoà và mối quan hệ của chính quyền này với Mỹ trong thập niên 60, 70 của thế kỷ XX.
Trong những tác phẩm sau, ông có nhiều điều kiện hơn để khai thác sâu các tư liệu, phân tích, luận giải chặt chẽ hơn về các tình thế chính trị trong chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Tuy nhiên công trình “Từ toà Bạch Ốc đến Dinh Độc lập” vẫn được xem là một trong những ấn bản quan trọng cho các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về vấn đề chính quyền Việt Nam Cộng hoà (1967-1975). Độ lùi của thời gian càng xa, càng giúp ta có nhiều cơ hội để hiểu rõ hơn về cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) và thực chất những mối quan hệ giữa các bên trong cuộc chiến tranh này thông qua việc tiếp cận với các tài liệu “mật”. Công trình “Hồ sơ mật Dinh Độc lập” của tác giả Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L.
Schecter được NXB Công an nhân dân ấn hành năm 2003 là một minh chứng cho nhận định trên. Tác phẩm đã mang đến cho độc giả những tư liệu chi tiết, sinh động về mối quan hệ giữa Việt Nam Cộng hoà và Mỹ đặc biệt là trong tám năm cuối của chính quyền Sài Gòn. Công trình đã nêu lên một mặt rất khác so với những gì chúng ta thường thấy về quan hệ đồng minh giữa hai chính quyền Việt Nam Cộng hoà và Mỹ. Không còn là những viện trợ ồ ạt, không còn những quan điểm thống nhất trong việc đánh bại lực lượng cách mạng, thái độ nổi bật mà tác giả muốn truyền tải qua tác phẩm này đó là sự trách cứ với một đồng minh đã bội ước.
Bằng những dẫn chứng về các bức thư, những chuyến công du, những lời cam kết của các Tổng thống Mỹ (Nixon, Ford) với số phận, sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn, tác giả Nguyễn Tiến Hưng muốn lên án về thái độ “lật lọng” của Mỹ trong giai đoạn cuối của chiến tranh khi chứng kiến sự suy tàn đi đến sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Qua tác phẩm, người đọc còn có thể cảm nhận được tác giả đang cố biện minh cho thất bại của chính quyền Sài Gòn, tác giả đặt ra giả thiết, nếu như Mỹ giữ những lời cam kết, nếu như Mỹ viện trợ kịp thời cho đồng minh thì có lẽ Việt Nam Cộng hoà không sụp đổ nhanh và bi thảm đến như vậy. Tuy nhiên, những lập luận, chứng minh của Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter chỉ làm cho độc giả hiểu rõ một điều, chính quyền Việt Nam Cộng hoà quá phụ thuộc vào những viện trợ Mỹ, thất bại là cái kết tất yếu cho những chính quyền không có nội lực.
20 Đặc biệt, trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, các công trình nghiên cứu về Việt Nam Cộng hoà đã bắt đầu giành một sự quan tâm đặc biệt hơn về sự tồn tại của chính quyền này trong những năm 1973-1975. Giai đoạn 1973-1975 tuy là một thời gian rất ngắn, nhưng trong giai đoạn này đã diễn ra những sự kiện quan trọng, quyết định số phận của chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Cuốn sách “Tâm tư Tổng thống Thiệu” được cơ sở Hứa Chấn Minh xuất bản năm 2010 là một trong những công bố mới nhất của tác giả Nguyễn Tiến Hưng. Với vai trò là Phụ tá Tổng thống về Tái thiết (1973), Tổng trưởng Kế hoạch (1973-1975), đồng thời là người điều phối viện trợ về mặt vĩ mô, tác giả đã có khoảng thời gian dài theo sát những biến chuyển của chính quyền Đệ nhị Cộng hoà trong những năm tháng cuối.
Bên cạnh việc hệ thống lại tư liệu liên quan đến chính quyền Việt Nam Cộng hoà trong những năm 1973-1975, trong công trình này, tác giả Nguyễn Tiến Hưng tập trung thể hiện những nỗ lực, cố gắng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong việc cứu vớt sự sụp đổ của chính quyền trước thời khắc lịch sử tháng 4-1975 và những nghĩ suy của ông Thiệu sau khi đã rời khỏi Việt Nam. Là một công trình qui mô với hơn 700 trang, tác giả đi sâu phân tích ba vấn đề lớn: Thứ nhất, sự nóng vội, thiếu tính toán và trách nhiệm của các tướng lĩnh và Tổng tư lệnh quân đội chính quyền Việt Nam Cộng hoà trong việc đưa ra các quyết định rút quân kể từ tháng 3 cho đến hết tháng 4-1975; Thứ hai: lên án Mỹ đã không giữ những lời hứa đối với đồng minh Việt Nam Cộng hoà; Thứ ba: khắc hoạ một số tính cách nổi bật của Nguyễn Văn Thiệu và điểm qua một số nét được coi là đóng góp của Tổng thống Thiệu trong thời gian nắm quyền. Xuất phát từ quan điểm cá nhân và mối quan hệ riêng giữa tác giả với Tổng thống Thiệu, tác phẩm khó tránh khỏi những ý kiến chủ quan, thiên vị và đôi chỗ người đọc còn cảm thấy có sự biện luận khiên cưỡng cho trách nhiệm của Nguyễn Văn Thiệu với vai trò là Tổng thống nền Đệ nhị Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam.