CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ HỖ TRỢ CHÍNH THỨC NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP 1. Một số lý luận cơ bản về vốn đầu tư hỗ trợ chính thức nước ngoài (ODA) 1. Nguồn gốc và khái niệm ODA 1. Nguồn gốc ODA Tháng 7/1944, trước tình hình chiến tranh thế giới lần thứ II sắp kết thúc, quân đồng minh sắp dành được thắng lợi hoàn toàn, tại Bretton Wood (Mỹ), 44 nước đã nhóm họp và lập ra Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB).
Ngày 09/05/1945, Phát xít Đức tuyên bố đầu hàng không điều kiện, Đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc. Cả Châu Âu, Châu Á nhiều nước bị tàn phá nặng nề về kinh tế, nhất là các nước Châu Âu. Nước thắng trận cũng như nước bại trận đều đứng trước cảnh hoang tàn, đổ nát. Chỉ có Châu Mỹ nói chung và Mỹ nói riêng không bị ảnh hưởng gì mà ngược lại còn giàu lên nhờ chiến tranh (Năm 1945, GNP của Mỹ là 213,5 tỷ USD, bằng 40% tổng sản phẩm toàn thế giới, tăng gần gấp đôi so với năm 1942 (125,8 tỷ USD)).
Trước tình hình đó, để cứu vớt các nước đồng minh Tây Âu, đồng thời nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô và các nước XHCN, Mỹ đã triển khai “kế hoạch Marshall” thông qua Ngân hàng thế giới, mà chủ yếu là Ngân hàng tái thiết phát triển quốc tế (IBRD). ODA ra đời cùng với kế hoạch Marshall của Mĩ viện trợ cho các nước Châu Âu vừa để giúp các nước này tái thiết kinh tế, mặt khác nhằm chi phối và kiểm soát các nước này. Để tiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall các nước Châu Âu đã soạn thảo chương trình phục hồi kinh tế và thành lập Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Âu (nay là OECD). Tổ chức này đóng góp quan trọng trong việc cung cấp ODA song phương và đa phương.
OECD đã lập Uỷ ban hỗ trợ phát triển (DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư (1960). Ban đầu DAC bao gồm 18 nước: Ôxtrâylia, Áo, Bỉ, Aixơlen, Canađa, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Thụy Điển, Italia, Nhật Bản, Hà Lan, NiuDilân, Nauy, Tây Đức, Thuỵ Sĩ, Anh, Mĩ và Uỷ ban cộng đồng Châu Âu. Nay DAC có thêm 4 nước mới: Bồ Đào Nha, Lúcxămbua, Tây Ban Nha, Hi Lạp. Các nước thành viên thông báo cho Uỷ ban những đóng góp của họ cho các chương trình viện trợ, trao đổi với nhau về các vấn đề liên quan đến chính sách viện trợ và phát triển.
7 ODA lúc đầu là sự trợ giúp dưới dạng không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi của các nước phát triển đến các nước đang phát triển nhưng gần đây ODA hướng tới vai trò khác của viện trợ, ngoài việc cung cấp vốn, viện trợ phải chú trọng đến hỗ trợ nước nhận viện trợ có được thể chế và chính sách phù hợp để hiệu quả sử dụng vốn mở rộng và lâu dài. Khái niệm về ODA Hỗ trợ (hay Viện trợ) nước ngoài bao gồm các dòng tài chính, trợ giúp kỹ thuật và hàng hóa được cư dân một nước trao cho cư dân nước khác dưới hình thức trợ cấp hay cho vay có trợ cấp bởi Chính phủ các nước, các quỹ, các tổ chức tài chính đa phương, các doanh nghiệp hay cá nhân. Không phải mọi sự chuyển giao từ nước giàu sang nước nghèo đều được xem là Hỗ trợ nước ngoài (Foreign Aid/ Foreign Assistance). Hỗ trợ nước ngoài bao gồm 3 loại chính: (i) Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance, ODA) là lớn nhất, bao gồm viện trợ của chính phủ nước tài trợ (vì thế được gọi là chính thức) dành cho các nước thu nhập thấp và trung bình; (ii) Hỗ trợ chính thức (Official Assistance, OA), là viện trợ cung ứng bởi chính phủ các nước tài trợ dành cho những quốc gia giàu hơn; và (iii) Hỗ trợ tự nguyện tư nhân (Private Voluntary Assistance, PVA) bao gồm trợ cấp từ các tổ chức phi chính phủ, các nhóm tôn giáo, các tổ chức từ thiện, các quỹ và các công ty tư nhân.
Năm 1972, lần đầu tiên OECD đã đưa ra khái niệm về ODA đầy đủ như sau: “ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triến kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”. Đến năm 2009, “Báo cáo đánh giá viện trợ khi nào có tác dụng, khi nào không và tại sao?” (WB, 1999) đã bổ sung và hoàn thiện thêm khái niệm về ODA như sau: “ODA là một phần của Tài chính phát triển chính thức (ODF) trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA”, trong đó ODF là tất cả các nguồn tài chính mà Chính phủ các nước phát triển và tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển. 8 Theo từ điển của UNDP, Viện trợ phát triển chính thức (ODA) là khoản hỗ trợ và vốn vay cung cấp cho các nước trong danh mục được nhận tài trợ của DAC, khoản này hỗ trợ cho các lĩnh vực chính thức với dự định cho mục đích phát triển và thành tố hỗ trợ chiếm ít nhất là 25%.
Việt Nam đã trải qua hơn 27 năm tiếp nhận nguồn vốn ODA, kể từ khi chính thức nối lại quan hệ với cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế vào tháng 11 năm 1993. Đến năm 2001, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 4/5/2001 quy định quy chế quản lý sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) - đây là văn bản quy phạm pháp luật cao nhất có liên quan đến quản lý ODA tại Việt Nam tính đến thời điểm ban hành. Theo văn bản này, khái niệm về ODA lần đầu tiên được cụ thể hóa tại Nghị định như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA) trong quy chế này được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ”. Ngoài ra, tại Nghị định cũng đã đề cập và phân loại các nội dung liên quan đến thu hút và sử dụng ODA, cụ thể: Nhà tài trợ ODA bao gồm: (i) Chính phủ nước ngoài; (ii) các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia; Hình thức cung cấp ODA bao gồm: ODA không hoàn lại và ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%”; Các phương thức cung cấp ODA bao gồm: Hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ theo chương trình, hỗ trợ theo dự án; Xác định các lĩnh vực ưu tiên được xác định riêng cho từng nhóm ODA (không hoàn lại; vay ưu đãi).
Theo đó, nông nghiệp và phát triển nông thôn chưa được ưu tiên sử dụng ODA không hoàn lại, chỉ được ưu tiên sử dụng ODA vốn vay. Ngày 7/11/2006, Nghị định số 131/2006/NĐ-CP được Chính phủ ban hành thay thế Nghị định 17/2001/NĐ-CP quy định về quy chế quản lý sử dụng ODA. Khái niệm ODA tại Nghị định số 131/2006/NĐ-CP được đề cập như sau: “ODA là các hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặc Chính phủ với các nhà tài trợ bao gồm chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên Quốc gia hay liên Chính phủ”. Ngày 23/4/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2013/NĐ-CP và ngày 16/3/2016 ban hành nghị định mới về quản lý và sử dụng ODA và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ Nghị định số 16/2016/NĐ - CP.
Trong đó quy định: “ODA là nguồn vốn của Chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên Quốc gia (gọi tắt là Nhà tài trợ) cung cấp cho Nhà 9 nước hoặc Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam dưới 2 hình thức: (i) ODA viện trợ không hoàn lại và (ii) ODA vốn vay tức là phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ, yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% với khoản vay có ràng buộc và 25% đối với khoản vay không ràng buộc”. Nghị định này cũng đã đưa ra khái niệm vốn vay ưu đãi: “Là hình thức cung cấp vốn vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại, nhưng yếu tố không hoàn lại chưa đạt tiêu chuẩn của ODA vốn vay”. Như vậy, các khái niệm của Quốc tế và Việt Nam về ODA nêu trên đều thống nhất nội dung về bản chất của ODA là: (i) ODA phản ánh mối quan hệ giữa hai bên: bên tài trợ gồm các tổ chức Quốc tế, Chính phủ các nước phát triển, các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên Quốc gia và bên nhận tài trợ là Chính phủ một nước (thường là nước đang phát triển hay kém phát triển); (ii) với mục đích giúp đỡ nước này phát triển kinh tế - xã hội; (iii) bộ phận chính của nguồn vốn ODA là vốn vay ưu đãi, Chính phủ nước nhận tài trợ (vay nợ) phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ trong tương lai. Từ những khái niệm trên, chúng ta hiểu một cách đầy đủ rằng: - ODA là khoản vốn các nước phát triển (nước giàu) hoặc các tổ chức quốc tế hỗ trợ cho các nước đang phát triển và kém phát triển (nước nghèo).
Khoản vốn hỗ trợ này thường thể hiện dưới dạng tiền tệ, hàng hoá, chuyển giao công nghệ, chuyển giao tri thức theo khuôn khổ Hiệp định, Thoả ước hoặc các văn bản thoả thuận ký kết chính thức; - Khoản hỗ trợ dưới hình thức hỗ trợ không hoàn lại hoặc có hoàn lại, nhưng tỷ lệ phần ưu đãi không hoàn lại (phần cho không cộng với các phần ưu đãi về lãi suất, ưu đãi ân hạn, …) phải chiếm ít nhất là 25% tổng giá trị hỗ trợ đối với khoản ODA không ràng buộc và 35% đối với khoản ODA có ràng buộc; - Khoản hỗ trợ này nhằm mục đích hỗ trợ cho các ngành, lĩnh vực với các mục tiêu cụ thể như: phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Phân loại ODA và các nhà tài trợ ODA có thể được phân loại theo 6 tiêu chí sau: tính chất nguồn vốn, mục đích sử dụng, nguồn cung cấp, điều kiện ràng buộc, hình thức hỗ trợ và cơ chế quản lý: 10 1. Phân loại theo tính chất nguồn vốn Theo tính chất nguồn vốn, ODA bao gồm 3 loại: Viện trợ không hoàn lại, Viện trợ có hoàn lại và Viện trợ hỗn hợp.