CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC 1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh và quản trị chiến lược 1.1 Khái niệm chiến lược Trong quá trình phát triển và ứng dụng quản lý chiến lược trong kinh doanh, các nhà nghiên cứu, các học giả, các nhà quản lý trên thế giới đã có nhiều các tiếp cận khác nhau và có nhiều quan điểm khác nhau về lĩnh vực này.Porter: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ” [13,24] Henry Mintzbeg cho rằng chiến lược là các quyết định và hành động để phản ứng lại sự thay đổi không ngừng của môi trường kinh doanh: “Chiến lược là chuỗi các quyết định và hành động để đạt được mục tiêu của tổ chức” [theo 41,6] “Chiến lược là cái mà dựa vào nó các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp sẽ đạt được” [31,45] “Chiến lược công ty là kế hoạch điều hành tổng thể, nó chỉ ra bằng cách nào công ty sẽ đạt được các mục đích và nhiệm vụ của mình. Nó làm tối đa các lợi thế cạnh tranh và tối thiểu các bất lợi” [theo 42,11] Theo nhóm tác giả này chiến lược kinh doanh là nghệ thuật để giành thắng lợi trong cạnh tranh được phổ biến ngày nay. Theo hướng tiếp cận về khía cạnh quản lý có các quan điểm sau: Theo James B.Quinn: “Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các mục tiêu hành động thành một tổng thể kết dính với nhau” [ theo 7, 34] Theo William J.Gueck: “Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính tổng nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp được thực hiện” [theo 7, 35] HV: Phạm Thị Hằng Nga. 47 LTK 5 Luận văn CH QTKD Khoa QTKD ĐHBK HN Tổng hợp các chiến lược trên ta có thể hiểu: Chiến lược kinh doanh là công việc ấn định các nhiệm vụ và hệ thống các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn và đưa ra các kế hoạch, chính sách phù hợp với xu thế biến động của môi trường, phù hợp tối ưu các nguồn lực để giành thắng lợi trong cạnh tranh và đạt được các mục tiêu cơ bản đó.2 Khái niệm về quản trị chiến lược Quan niệm về quản trị chiến lược của các học giả tương đối tập trung, nhìn chung họ đều nêu lên những nội dung cơ bản của quản trị chiến lược trong kinh doanh.
Dưới đây là một số quan niệm cơ bản: a. Quản trị chiến lược là tạo lấp và thực hiện các quyết định về quản lý và các hành động nhằm xác định và thực hiện các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. Nó bao gồm các công việc như: đánh giá môi trường kinh doanh bên trong và bên ngoài, xây dựng chiến lược kinh doanh, tổ chúc thực hiện và kiểm tra chiến lược. Quản trị chiến lược là khoa học và nghệ thuật của việc xây dựng, triển khai thực hiện và đánh giá toàn bộ các quyết định và hoạt động chức năng trong doanh nghiệp, nó giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình.
Quá trình quản trị chiến lược là tập hợp đày đủ các cam kết, các quyết định và các hành động cần thiết cho Công ty đạt được các lợi thế cạnh tranh và kiếm được lợi nhuận trên mức lợi nhuận trung bình của ngành. Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu môi trường hiện tại và tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được mục tiêu trong môi trường hiện tại cũng như tương lai [39,34] 1.3 Các nội dung cơ bản của quá trình quản trị chiến lược Nội dung chủ yếu bao gồm ba phần chính -Hoạch định và thẩm định chiến lược Nội dung chủ yếu của phần này là xây dựng các lực chọn được một kế hoạch chiến lược thích hợp nhất từ cấp Công ty đến các đơn vị kinh doanh và các cấp chức năng. HV: Phạm Thị Hằng Nga. 47 LTK 6 Luận văn CH QTKD Khoa QTKD ĐHBK HN -Triển khai thực hiện chiến lược Nội dung chính của phần này là triển khai thực hiệc kế hoạch đã được hoạch định để đạt được các mục tiêu đã đặt ra.
-Kiểm tra đánh giá chiến lược Nội dung chủ yếu của phần này là việc kiểm tra đánh giá một cách thường xuyên quá trình thực hiện chiến lược để đảm bảo việc triển khai thực hiện là đúng với hoạch định. Đồng thời phát hiện các yếu tố mới do sự biến động của môi trường từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh.4 Phân loại chiến lược kinh doanh 1.1 Phân loaị theo cấp xây dựng và cấp quản lý chiến lược Chiến lược cấp tổng Công ty là chiến lược bao trùm toàn bộ tổng hoạt động của tổng Công ty, nhằm mục đích hiện thực hóa nhiệm vụ chiến lược và các mục tiêu chính của tổng Công ty, đánh giá khả năng thực hiện chiến lược và phân tích danh mục sử dụng vốn đầu tư. Chiến lược cấp kinh doanh nhằm xác định việc lựa chọn sản phẩm hoặc thị trường cụ thể cho hoạt động kinh doanh riêng trong nội bộ tổng Công ty, xác định cách thức mỗi đơn vị kinh doanh thực hiện chức năng nhiệm vụ ra sao để góp phần hoàn thành chiến lược chung và chiến lược các đơn vị khách trong tổng công tu để hậu thuẩn cho việc hoàn thanh chiến lược và mục tiêu chung. Chiến lược của các bộ phận chức năng trong tổng Công ty nhằm tập trung hỗ trợ các chiến lược cả Công ty, đó là chiến lược bộ phận thị trường, bộ phận tài chính kế toán, bộ phận tổ chức sản xuất, bộ phận nghiên cứu phát triển sản phẩm, bộ phận maketing, bộ phận vật tư, bộ phận nhân lực và thông tin.
Xây dựng chiến lược ở các cấp đều giống nhau. Tuy nhiên các vấn đề trọng tâm ở mỗi cấp khác nhau về nội dung và mức độ nhưng phải đảm bảo tính thống nhất, việc thông tin phản hồi thường xuyên liên tục giữa các cấp sẽ đưa đến quản trị chiến lược cao. HV: Phạm Thị Hằng Nga. 47 LTK 7 Luận văn CH QTKD Khoa QTKD ĐHBK HN 1.2Phân loại theo lĩnh vực Chiến lược sản xuất sản phẩm: Chọn cấu trúc sản phẩm phù hợp với cấu trúc chế tạo giúp cho Công ty giảm thiểu chi phí, tạo được ưu thế cạnh tranh trên thị trường về giá sản phẩm đó là thế mạnh của Công ty.
Chiến lược marketing: Chọn lựa những phân khúc thị trường mục tiêu, thiết kế chiến lược marketing và định vị được thị trường, đó là 3 yếu tố chủ yếu của chiến lược marketing để giúp doanh nghiệp có được cơ may thị trường. Chiến lược mua sắm vật tư: Vai trò chức năng quản lý vật tư là giám sát và kết hợp được 3 chức năng chính: Thu mua các nguồn lực cung cấp đầu vào cho sản xuất kinh doanh, kiểm soát sản xuất, và phân phối sản phẩm đầu ra. Chiến lược này đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp để đạt vị thế chi phí thấp. Chiến lược khoa học và công nghệ: Trong các chức năng kinh doanh thì việc đầu tư vào nghiên cứu phát triển thường sản sinh ra nhiều kết quả cao.
Chiến lược khoa học công nghệ có thể tập trung vào 3 loại chính là: Chiến lược đổi mới sản phẩm, chiến lược phát triển sản phẩm và những chiến lược đổi mới công nghệ chế tạo. Chiến lược tổ chức và nhân sự: Nó gồm tổ chức về cơ cấu bộ máy doanh nghiệp sao cho hợp lý, phân định chức năng quyền hạn, lựa chọn cán bộ đúng cương vị phụ trách với cân đối nhân sự hiện tại và tương lai, phân tích cung cầu thị trường nhân lực phải có những giải pháp cân đối nguồn nhân lực. Chiến lược thông tin: Các hệ thống thông tin cần được hố trợ cho mục đích và mục tiêu của doanh nghiệp. Hiện nay nhiều Công ty đang sử dụng phương pháp kế hoạch hóa hệ thống thông tin kinh doanh là để xác định mục tiêu kinh doanh, tiến hành các hoạt động kinh doanh, phân loại dữ liệu và xác định kiến trúc thông tin.
Chiến lược tài chính: Doanh nghiệp phải xử lý quan hệ tài chính để không ngừng củng cố và còn phát triển sản xuất kinh doanh ngày càng đi lên. - Đầu tư dài hạn vào đâu? bao nhiêu? cho phù hợp với từng giai đoạn kinh doanh để đạt hiệu quả cao - Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp khai thác là nguồn vốn nào? HV: Phạm Thị Hằng Nga. 47 LTK 8 Luận văn CH QTKD Khoa QTKD ĐHBK HN Quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp luôn chủ động sáng tạo, áp dụng luật kế toán vào việc chỉ đạo hạch toán kế toán sát sao, năng động.3 Phân loại theo dạng chiến lược sản xuất kinh doanh Chiến lược thâm nhập và mở rộng thị trường: Tìm kiếm cơ hội phát triển thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt động với hang hóa và dịch vụ hiện có bằng các biện pháp marketing, giảm giá ….biến khách hàng tiềm năng thành khách hàng hiện có để mở rộng thị trường. Chiến lược phát triển sản phẩm: Nghiên cứu đưa ra những sản phẩm mới, cải tiến nâng cao chất lượng hoặc giảm giá sản phẩm đã có, thay thế cải tiến mẫu mã bao bì cho phù hợp.
Chiến lược đa dạng hóa trong kinh doanh: mở ra những lĩnh vực kinh doanh mới, kết hợp sản xuất và dịch vụ để hấp dẫn khách hàng. Chiến lược tạo sự khác biệt sản phẩm: doanh nghiệp cần tạo ra sản phẩm dịch vụ hàng hóa mà các đối thủ cạnh tranh không có như chất lượng sản phẩm cao, kiểu dáng mẫu mã đẹp, tạo nét riêng cho sản phẩm của doanh nghiệp. Chiến lược giá cả: doanh nghiệp sản cuất có số lượng sản phẩm lớn, áp dụng công nghệ tiên tiến để đạt được năng suất cao, tăng cường các biện pháp quản lý để hạ chi phí trong sản xuất… 1.2 Mục tiêu của quản trị chiến lược Không thể tìm kiếm mối liên hệ trực tiếp của quản trị chiến lược với sự gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp vì trong môi trường có nhiều biến số tác động và rất phức tạp. Tuy nhiên không thể phủ nhận những đóng góp gián tiếp vào lợi nhuận của quản trị chiến lược thông qua việc khai thác cơ hội và giành ưu thế cạnh tranh.
Quá trình quản trị chiến lược giúp doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng đi của mình. Nó khiến cho nhà quản trị chiến lược phải xem xét và xác định xem doanh nghiệp đi theo hướng nào và khi nào thì đạt tới vị trí nhất định. Việc nhận thức kết quả HV: Phạm Thị Hằng Nga.