Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp giữ vai trò then chốt quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Thống kê giai đoạn 2001-2008 cho thấy kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 7%/năm, kéo theo sự gia tăng nguồn ngân sách nhà nước đầu tư cho dạy nghề từ 968 tỷ đồng năm 2001 lên 5.985 tỷ đồng vào năm 2008 (tăng gấp hơn 6 lần). Tuy nhiên, cơ cấu lao động vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng khi cả nước có trên 44 triệu lao động trên tổng số 85 triệu dân năm 2007, nhưng có tới 31,8 triệu người chưa qua đào tạo và 56,8% lực lượng lao động còn tập trung trong khu vực nông, lâm, thủy sản. Thực trạng mất cân đối giữa cung và cầu nhân lực kỹ thuật, cơ cấu trình độ đào tạo theo hình tháp ngược cùng áp lực từ tâm lý chuộng bằng cấp đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một chiến lược phát triển dạy nghề đồng bộ.

Luận văn tập trung nghiên cứu luận cứ khoa học nhằm xác định nội dung cơ bản của chiến lược phát triển dạy nghề và quy hoạch hệ thống các trường nghề trên phạm vi toàn quốc. Mục tiêu cụ thể là giải quyết bài toán cân đối giữa nhu cầu sử dụng lao động của thị trường và năng lực đào tạo của hệ thống các cơ sở dạy nghề đến năm 2020. Phạm vi nghiên cứu bao quát các chính sách pháp luật, hệ thống trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề trực thuộc các Bộ, ngành, địa phương trong giai đoạn 2001-2010, đồng thời định hướng tầm nhìn đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu là căn cứ khoa học phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế phi nông nghiệp đạt trên 90%, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ mức 7,6% năm 1986 lên trên 50% vào năm 2020, góp phần đưa GDP bình quân đầu người vượt mức 3.000 USD (tương đương 10.000 USD theo sức mua tương đương PPP).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết vốn nhân lực (Human Capital Theory) kết hợp với khung lý thuyết quản trị chiến lược theo mô hình McKinsey (1978), coi chiến lược là tập hợp các chuỗi hoạt động nhằm kiến tạo lợi thế cạnh tranh bền vững thông qua đầu tư giáo dục và đào tạo. Bên cạnh đó, tác giả tiếp thu mô hình đào tạo nghề kép (Duale Ausbildung) của Cộng hòa Liên bang Đức theo Bộ luật Đào tạo nghề năm 1969, trong đó cấu trúc chương trình học bao gồm 60% thời lượng dành cho môn chuyên ngành thực hành tại doanh nghiệp và 40% thời lượng cho kiến thức lý thuyết tại trường nghề, với mức đóng góp tài chính của doanh nghiệp đạt khoảng 2-3% tổng quỹ tiền lương.

Luận văn làm rõ và chuẩn hóa 5 khái niệm nền tảng:

  • Nguồn nhân lực: Tổng thể phẩm chất và năng lực của lực lượng trong độ tuổi lao động (nam từ 15-60 tuổi, nữ từ 15-55 tuổi) theo quy định của Bộ luật Lao động.
  • Lao động qua đào tạo nghề: Lực lượng được trang bị kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành, được cấp chứng chỉ hoặc văn bằng chính quy theo Điều 15 Luật Dạy nghề 2006.
  • Cấp trình độ đào tạo nghề: Khung phân hóa mục tiêu đào tạo theo chiều sâu, bao gồm 4 cấp độ: sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và cấp độ mới là đại học công nghệ thực hành (đào tạo kỹ sư thực hành).
  • Nghề trọng điểm: Các ngành nghề mũi nhọn được đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, giáo trình và giáo viên nhằm đạt chuẩn chất lượng quốc gia, khu vực ASEAN hoặc quốc tế.
  • Hệ thống cơ sở dạy nghề: Mạng lưới thống nhất gồm các trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề được quản lý phân cấp từ trung ương đến địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, báo cáo phát triển của Ngân hàng Thế giới (World Bank 2006) và Báo cáo năng lực cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF 2005) trong giai đoạn 2001-2010.

Để đánh giá thực trạng mạng lưới, tác giả thực hiện khảo sát trên cỡ mẫu gồm 150 cơ sở dạy nghề đại diện cho các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên (stratified random sampling) được áp dụng dựa trên 6 vùng kinh tế - xã hội trọng điểm và 3 cấp quản lý (Bộ ngành, địa phương, tư thục) nhằm bảo đảm tính đại diện cao. Về phương pháp phân tích, tác giả kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích ma trận SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) và phương pháp dự báo xu thế ngoại suy kịch bản. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp lượng hóa chính xác nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp, phân tích toàn diện các biến số kinh tế - xã hội và xây dựng kịch bản quy hoạch mạng lưới phù hợp với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 8,5%/năm trong giai đoạn 2011-2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu trình độ đào tạo của lực lượng lao động còn nhiều bất cập và lệch pha so với nhu cầu thực tế của nền kinh tế. Dù tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng từ 7,6% năm 1986 lên gần 30% năm 2007, nhưng chất lượng đào tạo chưa đáp ứng tiêu chuẩn của các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI. Kết quả điều tra năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy có tới 63% sinh viên tốt nghiệp đại học không có việc làm ngay, 37% số có việc làm phải qua quá trình đào tạo lại hoặc làm trái ngành nghề, trong khi các khu công nghiệp lại thiếu hụt trầm trọng công nhân kỹ thuật lành nghề.

Thứ hai, mạng lưới cơ sở dạy nghề phân bố không đồng đều và cơ chế phân bổ nguồn lực còn dàn trải. Tính đến hết năm 2010, các cơ sở đào tạo nghề tập trung chủ yếu tại vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ, trong khi vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên có mạng lưới cơ sở dạy nghề rất mỏng, chưa đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn. Dù ngân sách chi cho dạy nghề tăng gấp 6 lần (đạt 5.985 tỷ đồng năm 2008), hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị thực hành tại nhiều trường vẫn còn hạn chế và thiếu đồng bộ.

Thứ ba, khoảng cách về chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam so với các nước trong khu vực còn rất lớn. Theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF 2005), chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam chỉ xếp hạng 53/59 quốc gia khảo sát. Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2006, tỷ lệ dân số Việt Nam được học từ 13 năm trở lên chỉ đạt 2%, và tỷ lệ người trong độ tuổi 20-24 học đại học chỉ đạt 10% (thấp hơn nhiều so với mức 15% của Trung Quốc, 41% của Thái Lan và 89% của Hàn Quốc). Bên cạnh đó, mật độ sinh viên đại học trên 1 vạn dân của Việt Nam là 181, cao hơn mức trung bình thế giới (100) và Trung Quốc (140), phản ánh sự mất cân đối nghiêm trọng giữa giáo dục hàn lâm và đào tạo kỹ thuật thực hành.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của những bất cập trên bắt nguồn từ quán tính của nền kinh tế nông nghiệp (năm 2007 khu vực nông, lâm, thủy sản vẫn chiếm 29,6% giá trị sản xuất và 56,8% lao động) cùng tâm lý chuộng bằng cấp "phi đại học bất thành nhân". Áp lực nhân khẩu học cũng rất lớn khi dân số trong độ tuổi lao động tăng từ 58,3 triệu người năm 2010 lên mức dự báo 62,7 triệu người vào năm 2020, mỗi năm có thêm 1,5 triệu người bước vào độ tuổi lao động và khoảng 800-900 nghìn thanh niên nông thôn dôi dư cần chuyển đổi nghề nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp.

Khi đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, mô hình đào tạo nghề kép của CHLB Đức cho thấy sự tham gia chặt chẽ của doanh nghiệp là yếu tố quyết định thành công. Tại Đức, 80% học viên tốt nghiệp tại các doanh nghiệp lớn được giữ lại làm việc, 78% học viên có việc làm đúng chuyên ngành và 60% ký hợp đồng lao động dài hạn sau 6 tháng tốt nghiệp. Điều này chỉ ra rằng hệ thống dạy nghề Việt Nam cần chuyển đổi căn bản từ việc "đào tạo theo năng lực sẵn có" sang "đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp".

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua bảng ma trận phân bố mạng lưới cơ sở dạy nghề theo 6 vùng kinh tế và biểu đồ dự báo cơ cấu đào tạo đến năm 2020. Qua đó, các nhà quản lý dễ dàng nhận diện điểm thiếu hụt nguồn cung lao động kỹ thuật cao tại từng địa phương để điều tiết danh mục nghề trọng điểm và quy mô tuyển sinh phù hợp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và tái cấu trúc khung trình độ đào tạo nghề. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo bổ sung cấp trình độ đại học công nghệ thực hành (kỹ sư thực hành) vào Luật Giáo dục và Luật Dạy nghề trong giai đoạn 2011-2015. Mục tiêu là thiết lập mô hình đào tạo 4 cấp độ hoàn chỉnh (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học thực hành) và xây dựng cơ chế liên thông linh hoạt giữa hai luồng giáo dục hàn lâm và thực hành.

Thứ hai, quy hoạch lại mạng lưới cơ sở dạy nghề gắn với không gian phát triển kinh tế vùng. Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo tái cơ cấu mạng lưới trường nghề đến năm 2020, tập trung nâng cao năng lực cho các trung tâm dạy nghề huyện và trường trung cấp nghề tại Đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung. Đặt mục tiêu đầu tư trọng điểm từ 50-70 nghề đạt chuẩn cấp độ quốc tế và khu vực ASEAN, đồng thời ưu tiên giải ngân nguồn ngân sách dạy nghề tăng trưởng tối thiểu 10%/năm để chuẩn hóa trang thiết bị công nghệ cao.

Thứ ba, thúc đẩy cơ chế hợp tác công - tư và gắn kết cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp. Tổng cục Dạy nghề và Hiệp hội Doanh nghiệp thiết lập cơ chế chính sách ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp trích từ 2-3% quỹ lương để tham gia đào tạo nghề theo mô hình kép. Chỉ tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ học sinh, sinh viên nghề có hợp đồng lao động ngay sau 6 tháng tốt nghiệp đạt trên 85%, với trên 80% làm việc đúng chuyên ngành đào tạo trong giai đoạn 2012-2020.

Thứ tư, chuẩn hóa và phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề. Các cơ sở dạy nghề triển khai chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, bảo đảm 100% giáo viên dạy thực hành có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và tối thiểu 3-5 năm kinh nghiệm làm việc thực tế tại doanh nghiệp. Lộ trình thực hiện liên tục từ 2011 đến 2020 nhằm đáp ứng quy mô tuyển sinh dạy nghề tăng bình quân 10-15%/năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo và chuyên viên tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sử dụng các số liệu dự báo dân số trong độ tuổi lao động (62,7 triệu người năm 2020) và khung chiến lược để hoàn thiện chính sách quy hoạch mạng lưới giáo dục nghề nghiệp quốc gia.
  • Ban giám hiệu và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Hiệu trưởng, trưởng khoa tại các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề áp dụng bài học kinh nghiệm từ mô hình đào tạo nghề kép của Đức, xây dựng tiêu chí nghề trọng điểm và chuẩn hóa chương trình giảng dạy theo nhu cầu thị trường.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản trị kinh doanh, Quản trị nguồn nhân lực tham khảo phương pháp phân tích ma trận SWOT, quy trình xây dựng chiến lược và nguồn số liệu thứ cấp đáng tin cậy về thị trường lao động.
  • Doanh nghiệp, tập đoàn sản xuất và các khu công nghiệp: Giám đốc nhân sự, chuyên gia đào tạo tại các doanh nghiệp FDI và khối sản xuất ứng dụng mô hình liên kết đào tạo với nhà trường, tối ưu hóa ngân sách đào tạo 2-3% quỹ lương và chủ động đặt hàng nhân lực kỹ thuật chất lượng cao.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển dạy nghề đến năm 2020 là gì? Chiến lược hướng tới hiện đại hóa toàn diện hệ thống dạy nghề, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên trên 50% trong tổng số lao động làm việc, phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế phi nông nghiệp đạt trên 90% và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 8,5%/năm, đưa GDP bình quân đầu người vượt mức 3.000 USD (PPP 10.000 USD).

Tại sao luận văn đề xuất bổ sung cấp trình độ đại học công nghệ thực hành? Do thực tế năm 2007 có tới 31,8 triệu lao động chưa qua đào tạo và nền sản xuất đang chuyển dịch mạnh sang công nghệ tự động hóa, mô hình 3 cấp (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng) không đủ đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật bậc cao. Việc bổ sung cấp đại học thực hành tạo ra đội ngũ kỹ sư thực hành lành nghề và hoàn thiện hệ thống học tập suốt đời.

Mô hình đào tạo nghề kép của CHLB Đức mang lại bài học kinh nghiệm then chốt nào? Hệ thống đào tạo kép của Đức chứng minh hiệu quả khi 2/3 học sinh lựa chọn học nghề, doanh nghiệp chi 2-3% quỹ lương để tham gia đào tạo, mang lại kết quả 60% học viên có việc làm dài hạn sau 6 tháng và 78% làm đúng nghề. Việt Nam cần áp dụng cơ chế này để khắc phục tỷ lệ 63% sinh viên đại học ra trường thất nghiệp.

Quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề cần ưu tiên giải quyết vấn đề gì? Quy hoạch cần xóa bỏ tình trạng phân bố bất hợp lý khi các cơ sở dạy nghề tập trung quá nhiều ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng. Cần ưu tiên phân bổ nguồn ngân sách 5.985 tỷ đồng để nâng cấp mạng lưới trường nghề tại Đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung, giải quyết việc làm cho 800-900 nghìn lao động nông thôn dôi dư hàng năm.

Làm thế nào để thay đổi định kiến chuộng bằng cấp trong xã hội? Cần đẩy mạnh phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông, xây dựng lộ trình liên thông rõ ràng lên cao đẳng và đại học thực hành. Đồng thời, doanh nghiệp cần áp dụng chính sách trả lương dựa trên năng lực thực hành và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia thay vì chỉ căn cứ vào bằng cấp hàn lâm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng chiến lược phát triển dạy nghề và quy hoạch mạng lưới trường nghề trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng giai đoạn 2001-2010 với bức tranh phân bố mạng lưới cơ sở dạy nghề, sự tăng trưởng ngân sách từ 968 tỷ đồng lên 5.985 tỷ đồng và những hạn chế cốt lõi về cơ cấu trình độ nhân lực.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc đề xuất bổ sung cấp trình độ đại học công nghệ thực hành vào hệ thống giáo dục quốc dân, thiết lập mô hình 4 cấp độ kỹ thuật thực hành.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về quy hoạch không gian theo 6 vùng kinh tế, chuẩn hóa nghề trọng điểm, nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và gắn kết doanh nghiệp theo mô hình đào tạo kép của Đức.
  • Xác định lộ trình triển khai rõ ràng cho hai giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020 nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo và nâng cao kỹ năng cho 62,7 triệu người trong độ tuổi lao động vào năm 2020.

Các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần sớm tham khảo, ứng dụng khung chiến lược và các giải pháp quy hoạch trong luận văn để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.