phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở luận về hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam – Chi nhánh Nam Hà Nội. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Nam Hà Nội. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm huy động vốn Huy động vốn là nghiệp vụ tiếp cận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguôn vốn hoạt động Ngân hàng. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng rất lớn trong các Ngân hàng thƣơng mại. Vai trò của huy động vốn Trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi nƣớc, nguồn vốn huy động luôn có ý nghĩa quan trọng, giữ vai trò quyết định đến sự phát triển lâu dài và vững chắc, bởi sự bổ sung từ bên ngoài dù là viện trợ cho vay hay đầu tƣ nƣớc ngoài cũng chỉ là tạm thời.
Những cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ của các nƣớc trong khu vực và trên thế giới thời gian qua đã minh chứng rằng không thể hoàn toàn mong đợi sự tăng trƣởng, phát triển nhanh và vững chắc nhờ vào nguồn vốn bên ngoài mà phải tích cực mở rộng công tác huy động vốn từ nội bộ nền kinh tế. Kinh nghiệm của các nƣớc phát triển cho thấy, để ổn định tiền tệ và đặc biệt trong điều kiện hiện nay ở nƣớc ta, nhiệm vụ kiềm chế lạm phát đang là yêu cầu bức thiết, Nhà nƣớc phải sử dụng đồng bộ các giải pháp về kinh tế, tài chính - tiền tệ, trong đó, tăng cƣờng huy động vốn trong dân cƣ qua hệ thống NHTM là giải pháp khá hữu hiệu. Thực tế cho thấy một nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững khi nguồn tiền để đầu tƣ chủ yếu phải là từ tiết kiệm của dân chúng, tiết kiệm của nền kinh tế. Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Vốn là điều kiện bắt buộc để ngân hàng có đƣợc giấy phép tổ chức và hoạt động trƣớc khi nó có thể huy động đƣợc những khoản tiền gửi đầu tiên. Một ngân hàng mới luôn cần vốn ban đầu để xây dựng cơ sở hạ tầng, trang bị những điều kiện làm 7 việc, thuê nhân viên. Đặc trƣng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phƣơng tiện hoạt động kinh doanh chính mà còn là đối tƣợng kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thƣơng mại. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trƣờng tiền tệ (thị trƣờng vốn ngắn hạn) và thị trƣờng chứng khoán (thị trƣờng vốn dài hạn).
Những ngân hàng trƣờng vốn là những ngân hàng có thế mạnh trong kinh doanh. Chính vì thế, có thể nói: Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng. Do đó, ngoài vốn ban đầu cần thiết thì ngân hàng phải thƣờng xuyên chăm lo tới việc tăng trƣởng vốn trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng.
Vốn của ngân hàng quyết định tới việc mở rộng hay thu hẹp khối lƣợng tín dụng. Thông thƣờng, nếu so với các ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có các khoản mục đầu tƣ và cho vay kém đa dạng hơn, phạm vi và khối lƣợng cho vay của các ngân hàng cũng nhỏ hơn. Cũng do khả năng vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ không có phản ứng nhạy bén với sự biến động của lãi suất trên thị trƣờng, gây ảnh hƣởng đến khả năng thu hút vốn đầu tƣ từ các tầng lớp dân cƣ và các thành phần kinh tế. Vốn tạo niềm tin cho công chúng và là sự đảm bảo với các chủ nợ về sức mạnh tài chính của ngân hàng và đảm bảo với những ngƣời đi vay rằng ngân hàng có thể đáp ứng các nhu cầu tín dụng của họ ngay cả trong điều kiện nền kinh tế đang gặp khó khăn.
Vốn quyết định năng lực thanh toán, năng lực cạnh tranh và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường. Thật vậy, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động trong nền kinh tế thị trƣờng, đòi hỏi các ngân hàng phải có uy tín. Uy tín đó phải đƣợc thể hiện trƣớc hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng ở bất kỳ thời điểm nào. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn.
Vì vậy, loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và với số vốn khả dụng của ngân hàng nói riêng. Với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô 8 ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm vừa giữ đƣợc chữ tín, vừa nâng cao vị trí của ngân hàng mình trên thị trƣờng. Vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trƣởng và phát triển các hình thức dịch vụ mới, cho những chƣơng trình và trang thiết bị mới. Khi một ngân hàng phát triển nó cần vốn bổ sung để thúc đẩy tăng trƣởng và chấp nhận rủi ro gắn với sự ra đời các dịch vụ mới.
Bổ sung vốn sẽ cho phép ngân hàng mở rộng trụ sở, xây dựng thêm những văn phòng chi nhánh để theo kịp sự phát triển của thị trƣờng và tăng cƣờng chất lƣợng phục vụ khách hàng.Vốn đƣợc xem nhƣ một phƣơng tiện điều tiết sự tăng trƣởng, giúp đảm bảo rằng sự tăng trƣởng của một ngân hàng có thể đƣợc duy trì, ổn định và lâu dài. Các hình thức huy động vốn a. Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi - Tiền gửi không kỳ hạn. Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà khách hàng không có thoả thuận trƣớc về thời gian rút tiền.
Ngân hàng phải trả một mức lãi suất thấp hoặc không phải trả một lãi cho số tiền gửi này. Bởi vì, tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng rất biến động, khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào, do đó ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này, ngân hàng phải dự trữ một số tiền để đảm bảo có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu. Tiền gửi không kỳ hạn gồm hai loại: * Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng để thực hiện các khoản thanh toán về tiền mua hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng. Đứng trên góc độ là khách hàng thì đây là tiền khách hàng gửi vào ngân hàng để sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt: Séc, thẻ thanh toán, uỷ nhiệm chi.
Họ có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông qua công cụ thanh toán. Đứng trên góc độ ngân hàng thì ngân hàng coi đây là một khoản tiền mà họ phải có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên ngân hàng cần tận dụng loại tiền gửi này để làm vốn kinh doanh của mình bởi vì trong quá trình lƣu chuyển vốn của ngân hàng do có sự chênh lệch giữa các khoản tiền gửi vào và rút ra giữa các tài khoản của khách hàng. 9 * Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Là loại tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm bảo đảm an toàn về tài sản.
Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý cũng là tài sản của ngƣời ký thác, họ có quyền rút bất kỳ lúc nào, ngân hàng luôn luôn phải đảm bảo có thể thanh toán, lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán. Mục đích của ngƣời gửi tiền là bảo đảm an toàn vì khách hàng không xác định đƣợc thời gian nhàn rỗi cho số tiền của họ và họ không có nhu cầu sử dụng tiền gửi thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng. - Tiền gửi có kỳ hạn. Là loại tiền gửi, khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thoả thuận trƣớc về thời hạn rút tiền.
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi tƣơng đối ổn định vì ngân hàng xác định đƣợc thời gian rút tiền của khách hàng để thanh toán cho khách hàng đúng thời hạn. Do đó ngân hàng có thể chủ động sử dụng số tiền gửi đó vào mục đích kinh doanh trong thời gian ký kết. Đối với loại tiền gửi này, ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng. mục đích là tạo cho khách hàng có đƣợc nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có.
Chính vì là loại tiền gửi mà ngân hàng có quyền sử dụng nó trong thời gian nhất định nên loại tiền gửi này đƣợc trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. - Tiền gửi tiết kiệm. Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm hƣởng lãi. Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng cấp cho khách hàng một cuốn sổ, khách hàng phải quản lý và mang theo mỗi khi đến ngân hàng giao dịch.
Xét về bản chất, tài khoản tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập của cá nhân ngƣời lao động mà họ chƣa đƣa vào tiêu dùng, và là một dạng đặc biệt để tích luỹ tiền tệ thay cho hình thức cất trữ vàng, hàng hoá. Tiền gửi tiết kiệm có ba loại: * Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào song không đƣợc sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho ngƣời khác. Số dƣ tiền gửi này không lớn, nhƣng ít biến động, vì vậy đối với loại tiền gửi này các NHTM thƣờng trả lãi suất cao hơn với tiền gửi thanh toán. * Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về thời 10 gian gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn.
Loại hình tiết kiệm này khá quen thuộc ở Việt Nam, các NHTM Việt Nam thƣờng huy động tiết kiệm với thời hạn phong phú từ 01 tháng đến 12 tháng. * Tiết kiệm dài hạn: Đây là loại tiền gửi phổ biến ở một số nƣớc công nghiệp.