CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING MIX HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản về lao động và xuất khẩu lao động 1. Lao động Lao động là hoạt động có mục đích, ý thức của con người nhằm làm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người. Thực chất là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người.
Đó là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất tinh thần cho xã hội thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế. Trong kinh tế học, lao động được hiểu là một yếu tố sản xuất, là hoạt động của con người và là một dịch vụ hàng hóa lao động. Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động. Nguồn lao động Nguồn lao động (hay lực lượng lao động) bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp.
Nguồn lao động ở nước ta bao gồm những người có độ tuổi tròn 15 tuổi trở lên. Sức lao động Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình lao động tạo ra của cải vật chất tinh thần cho xã hội. Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế thị trưởng thì sức lao động cũng là một loại hàng hóa và cũng được trao đổi trên thị trường nước ngoài.
Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt không chỉ vì sự khác biệt với hàng hóa thông thưởng là khi sử dụng nó sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó mà còn thể hiện ở SVTH: Lê Thị Thanh Nga Page | 6 --- Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Phát chất lượng hàng hóa phụ thuộc chặt chẽ vào một loại nhân tố có tính đặc thủ, ngoài ra hàng hoá sức lao động còn là một sản phẩm có tư duy, có đời sống tinh thần. Thông qua thị trường lao động, sức lao động được xác định giá cá. Hàng hoá sức lao động cũng tuân theo quy luật cung – cầu của thị trường. Mức cung cao sẽ dẫn tới dư thừa lao động, giá cả sức lao động (tiền công) thấp, ngược lại khi mức cung thấp sẽ dẫn tới tình trạng thiếu lao động, giá cả sức lao động sẽ trở nên cao hơn.
Thị trường lao động Thị trường lao động: là nơi diễn ra quan hệ thương lương về việc làm giữa người lao động (cung lao động) và người sử dụng lao động (cầu lao động) theo nguyên tắc thỏa thuận về việc làm, tiền công và các điều kiện làm việc khác bằng hình thức hợp đồng lao động theo pháp luật lao động quy định. Trong mỗi xã hội, nơi nào xuất hiện nhu cầu sử dụng lao động và có nguồn lao động cung cấp, ở đó sẽ hình thành nên thị trường lao động. Trong nền kinh tế thị trường, người lao động muốn tìm việc phải thông qua thị trường lao động. Thị trường lao động là một lĩnh vực của nền kinh tế, nó bao gồm toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực mua bán, trao đổi và thuê mướn sức lao động.
Trên thị trường lao động. Mối quan hệ được thiết lập giữa một bên là người lao động và một bên là người sử dụng lao động. Qua đó, cung-cấu về lao động ảnh hưởng tới tiền công lao động và mức tiền công lao động cũng ảnh hưởng tới cung- cấu lao động. - Cầu lao động: là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mức giá có thể chấp nhận được, Nó mô tả toàn bộ hành vi người mua có thể mua được hàng hoá sức lao động ở mỗi mức giá hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt ra.
Cầu về sức lao động có liên quan chặt chẽ tới giá cả sức lao động, khi giá cả tăng hoặc giảm sẽ làm cho cầu về lao động giảm hoặc tăng. - Cung lao động: là lượng lao động mà người làm thuê có thể chấp nhận được ở mỗi mức giá nhất định. Giống như cầu và lượng cầu, đường cung lao động mô tả toàn bộ hành vi của người đi làm thuê khi thoả thuận ở các mức giá đặt ra. Cung lao động có quan hệ tỷ lệ thuận với giá cả.
Khi giá cả tăng thì lượng cung lao động tăng và ngược lại. SVTH: Lê Thị Thanh Nga Page | 7 --- Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Phát 1. Xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế đối ngoại, hình thức đặc thù của hoạt động xuất khẩu nói chung, trong đó hàng hóa đem xuất khẩu là dịch vụ bán quyền sử dụng sức lao động cho con người. XKLĐ mang tính chất tất yếu khách quan của quá trình di chuyển các yếu tố đầu vào của sản xuất dùng để chỉ hoạt động kinh tế của một quốc gia do các tổ chức kinh tế thực hiện nhiệm vụ cung ứng lao động cho các tổ chức kinh tế của một nước khác có nhu cầu sử dụng lao động xuất khẩu.
XKLĐ là sự di chuyển quốc tế về sức lao động có chủ đích, mục đích và được pháp luật cho phép Hay nói cách khác, XKLĐ là hoạt động đưa người lao động ra nước ngoài làm việc nhằm tăng thu nhập và ngoại tệ cho đất nước đồng thời giải quyết việc làm cho người lao động. XKLĐ trên thị trường lao động quốc tế được thực hiện chủ yếu dựa vào quan hệ cung – cầu lao động. Nó chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật kinh tế thị trưởng. Bên cầu phải tính toán kỹ hiệu quả của việc nhập khẩu lao động từ đó cần phải xác định chặt chẽ số lượng, cơ cấu, chất lượng lao động hợp lý.
Mặt khác, bên cung có mong muốn xuất khẩu càng nhiều lao động càng tốt. Do vậy, muốn cho loại hàng hoá đặc biệt này chiếm được ưu thế trên thị trường lao động, bên cung phải có sự chuẩn bị và đầu tư để được thị trường chấp nhận, phải đáp ứng kịp thời các yêu cầu về số lượng, cơ cấu và chất lượng lao động cao. XKLĐ không chỉ đơn thuần là đưa lao động sang làm việc ở nước ngoài mà nó còn biểu hiện ở một khía cạnh khác, đó là xuất khẩu lao động tại chỗ XKLĐ tại chỗ (XKLĐ nội biên): người lao động trong nước làm việc trong các doanh nghiệp FDI, các tổ chức quốc tế qua Internet. Tuy nhiên thời gian làm việc, học tập, tiền lương và những quy định khác thì thuộc sự quản lý của chủ thể sử dụng lao động đã được ký kết trong hợp đồng.
XKLĐ mang tính đặc thù của xuất khẩu hàng hóa nói chung, nhưng hàng hóa được đem đi xuất khẩu ở đây vô cùng đặc biệt, đó là hàng hóa dịch vụ bán quyền sử dụng sức lao động của người lao động. SVTH: Lê Thị Thanh Nga Page | 8 --- Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Phát Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo thời hạn và công việc được thực hiện theo luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Hợp tác quốc tế về lao động Là sự trao đổi lao động giữa các quốc gia trên cơ sở các hiệp định đã được thỏa thuận và ký kết giữa các quốc gia, nó là hợp đồng có thời hạn hợp pháp được pháp luật cho phép giữa các quốc gia hợp tác về lao động.
Nước đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài gọi là nước xuất lao động, còn nước tiếp nhận lao động và sử dụng lao động gọi là nước nhập khẩu lao động. Đối tượng liên quan - Cơ quan chính phủ và Cục Quản lý Lao động: Cục Quản lý lao động ngoài nước (có tên giao dịch quốc tế là Department of Overseas Labour, viết tắt là DOLAB) trực thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có các nhiệm vụ chính như thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch dài hạn và hàng năm, dự án, đề án về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; nghiên cứu định hướng phát triển về khai thác thị trường lao động ngoài nước; tổ chức quản lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và xử lý những vấn đề liên quan đến người lao động; thu, quản lý và sử dụng các nguồn thu từ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài… Tại mỗi quốc gia có người lao động Việt Nam còn có các Ban Quản lý Lao động tại địa phương. - Doanh nghiệp tuyển dụng lao động: Các doanh nghiệp này ngoài những quốc gia phát triển, phần lớn là những quốc gia đang phát triển, có nhu cầu tuyển dụng lao động cao. Họ có thể tư vấn, tuyển dụng lao động trực tiếp tại địa phương, hiệp định ký kết giữa các chính phủ hoặc thông qua công ty môi giới.
- Công ty xuất khẩu lao động: Danh sách doanh nghiệp đủ điều kiện đưa thực tập sinh (TTS) sang Nhật Bản được cập nhật đến 15/07/2020 có 376 doanh nghiệp. trong đó có khoảng 60% doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước hoặc cổ phần có vốn Nhà nước chi phối. Công ty làm nhiệm vụ giới thiệu, đào tạo, thủ tục đi nước ngoài, lo nơi định cư, giấy tờ, SVTH: Lê Thị Thanh Nga Page | 9 --- Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Phát hợp đồng lao động. cho người lao động.
Đổi lại, lao động chi trả cho công ty khoản phí gọi là phí môi giới không quá 3600 đô la. - Người lao động xuất khẩu: Người đi lao động xuất khẩu gồm lao động phổ thông và lao động có tay nghề. Người xuất khẩu theo dạng lao động phổ thông thường là những nông dân hay là người các tỉnh nghèo, người dân tộc, vì muốn tăng thêm thu nhập cho gia đình. Người đi lao động thường phải chịu chi phí cao trước khi xuất hành, có thể rơi vào điều kiện làm việc kham khổ, và đôi khi là nạn nhân của lừa đảo, bóc lột, buôn người.