CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING DỊCH VỤ. Khái quát chung về yếu tố sản phẩm dịch vụ 1. Khái niệm về sản phẩm dịch vụ “Theo Từ điển VN: Dịch vụ là các hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt” “Theo Philip Kotler: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.
Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Có nhiều khái niệm về dịch vụ dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì: “Dịch vụ là các hoạt động, sự thực hiện hoặc sự trải nghiệm mà một bên có thể cung ứng cho bên kia, mang tính chất vô hình và thường là không dẫn đến sự sở hữu bắt cứ yếu tố nào của quá trình tạo ra hoạt động/ sự trải nghiệm việc thực hiện đó” 1. Các tính chất đặc trưng của dịch vụ 1. Tính vô hình: Dịch vụ không thể nhìn, không thể tách rời, không thể thấy cảm nhận, nếm… 1.
Tính không lưu trữ: Dịch vụ không lưu trữ trong kho chờ đem bán hoặc sử dụng 1. Tính không tách rời: Dịch vụ không thể tách rời khỏi con người, các thiết bị cung ứng … tạo nên dịch vụ 1.4 Tính không ổn định: Chất lượng dịch vụ là không ổn định và phụ thuộc vào trạng thái sức khỏe, năng lực làm việc, tinh thần của nhân sự cung ứng, phụ thuộc vào thời gian, địa điểm và cách thức cung ứng dịch vụ… 1. Phân loại dịch vụ a) Phân loại theo nội dung các dịch vụ kinh doanh: - Dịch vụ cốt lõi: là dịch vụ chính của Doanh nghiệp, - Dịch vụ bổ sung: là những dịch vụ tăng thêm giá trị cho dịch vụ cốt lõi, - Dịch vụ hỗ trợ: là những dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cung ứng. b) Phân loại theo mức độ vô hình của dịch vụ: Luan van 5 - Dịch vụ mang tính chất tính hữu hình cao, - Dịch vụ mang tính chất vô hình cao.
c) Phân loại dịch vụ dựa trên bản chất của quá trình tạo ra dịch vụ: - Những lọa hình Dịch vụ có tác động đến thể chất con người. - Những loại hình Dịch vụ có tác động đến trí tuệ/tỉnh thần con người. - Những loại hìnhDịch vụ có sự phụ thuộc xử lý thông tin. d) Phân loại Dịch vụ theo quá trình tái sản xuất xã hội: - Dịch vụ liên quan đến tiêu dùng - Dịch vụ liên quan đến quá trình phân phối và trao đổi - dịch vụ thương - Dịch vụ liên quan đến quá trình sản xuất e) Phân loại Dịch vụ theo phương thức thực hiện: - Nhóm các loại hình dịch vụ được thực hiện bằng máy móc - Nhóm các loại hình dịch vụ được thực hiện bằng bàn tay con người 1.
Khái quát chung về marketing dịch vụ. Khái niệm về marketing dịch vụ Hiệp hội Marketing Mỹ (AMA) định nghĩa: “marketing dịch vụ là một tính năng tổ chức và một bộ quy trình xác định hoặc tạo ra, truyền đạt, cung cấp giá trị cho khách hàng và để quản lý mối quan hệ khách hàng theo cách mang lại lợi ích cho tổ chức và các bên liên quan”. Tóm lại chúng ta có thể hiểu một cách nôm na về khái niệm này như sau: “Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống marketing vào thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tổ chức. Những đặc trưng chủ yếu của marketing dịch vụ 1.
Marketing dịch vụ liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu dịch vụ: Khách hàng thường nhận được giá trị từ dịch vụ mà không sở hữu bất cứ một thành phần hữu hình nào. Nhiều dịch vụ yêu cầu khách hàng phải tham gia tạo nền dịch vụ, sự tham gia của khách hàng có thể ở dạng tự phục vụ. Những yếu tố vô hình tạo nền giá trị trong marketing dịch vụ: Các doanh nghiệp tạo ra dịch vụ dựa trên nền tảng là những yếu tố vật chất, nhưng lợi ích của một dịch vụ chủ yếu đến từ bản chất của quá trình thực hiện nó. Con người là yếu tố quan trọng tạo nền chất lượng dịch vụ: Sự khác biệt của một dịch vụ này với một dịch vụ khác thường nằm ở chất lượng của đội ngũ nhân viên phục vụ khách hàng.
Điều này đặc biệt đúng với các dịch vụ có mức độ tiếp xúc cao. Bên cạnh việc sở hữu những kỹ năng, kỹ thuật mà công việc yêu cầu, họ cũng cần phải sở hữu tốt những kỹ năng tương tác giữa các cá nhân con người với nhau. Trong khi đó, các doanh nghiệp cũng cần phải quản lý và giúp hành hành vi mong muốn ở khách hàng. Những người làm dịch vụ cũng cần suy nghĩ cẩn thận về việc đối tượng khách hàng thuộc các phân đoạn khác nhau sử dụng cùng một cơ sở dịch vụ.
Việc duy trì và đảm bảo chất lượng dịch vụ ổn định là khó khăn Sự hiện hữu của nhân viên và các khách hàng khác trong hệ thống vận hành làm cho việc tiêu chuẩn hóa và điều chỉnh chất lượng trở nên khó khăn trong cả dịch vụ đầu ra đầu vào. Với những dịch vụ được tiêu dùng ngay khi chúng được tạo ra và cần có sự có mặt của khách hàng, có thể sẽ xẩy ra lỗi và rất khó khắc phục những thất bại dịch vụ với khách hàng. Những yếu tố này làm cho doanh nghiệp dịch vụ khó có thể cải thiện được năng suất điều chỉnh được chất lượng và cung ứng một sản phẩm nhất quán. Chất lượng dịch vụ khó dự báo và đánh giá: Dịch vụ mang đến “đặc tính trải nghiệm” chỉ có thể được nhận thấy sau khi mua hoặc trong suốt quá trình tiêu dùng dịch vụ.
Khách hàng mua dịch vụ nhấn mạnh đến những “đặc tính tin cậy”, là những đặc tính người tiêu dùng cảm thấy khó đánh giá về dịch vụ thậm chí cả sau khi tiêu dùng dịch vụ, bởi vì họ mua sự chuyên nghiệp ở những lĩnh vực mà họ không có hiểu biết mấy. Quản trị mối quan hệ giữa khả năng cung ứng dịch vụ và nhu cầu của khách hàng là tâm điểm: Quản trị mối quan hệ giữa khả năng cung ứng dịch vụ và nhu cầu của khách hàng là một vấn đề quan trọng trong marketing dịch vụ. Bởi vì một dịch vụ là một Luan van 7 sự thực hiện chứ không phải là những vật hữu hình mà khách hàng có thể giữ được, nên nó dễ bị hỏng và không thể lưu giữ tại kho được. Những người cung ứng dịch vụ sẽ tìm kiếm được những cơ hội để quản lý năng lực sản xuất - dưới hình thức nhân viên, không gian vật chất và công cụ - để thích hợp với sự thay đổi trong cầu thị trường.
Nếu đặt mục tiêu tối đa lợi nhuận thì những người cung ứng dịch vụ nên nhắm tới những loại thích hợp vào những thời điểm thích hợp, tập trung bán hàng những giai đoạn xung yếu tới những đoạn thị trường sẵn sàng trả những mức giá cao. Thời gian là yếu tố luôn được quan tâm: Quản lý yếu tố thời gian trong marketing dịch vụ là rất quan trọng, đó là thời gian mà khách hàng và cả người cung ứng dịch vụ gặp nhau thì dịch vụ mới được thực hiện. Nhà cung ứng dịch vụ cần hiểu được sự căng thẳng và sự ưu tiên về mặt thời gian mà điều này có thể thay đổi từ phân đoạn thị trường này sang phân đoạn thị trường khác. Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ cũng cần tìm kiếm cách thức để hoàn thiện về tốc độ và hạn chế thời gian chờ đợi.
Khái quát chung về chiến lược marketing 1. Khái niệm chung: “Chiến lược marketing là sự lựa chọn phương hướng các hoạt động maketing từ nhiều phương án khác nhau liên quan đến thị trường và các nhóm khách hàng cụ thể. Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng đó là sự kết hợp giữa các thị trường mục tiêu và marketing hỗn hợp”. Đặc điểm chung của chiến lược marketing Chiến lược marketing thuộc chiến lược bộ phận của chiến lược doanh nghiệp.
Có nhiều sự trùng lặp giữa chiến lược marketing và chiến lược chung của doanh nghiệp, marketing đánh giá nhu cầu của người tiêu thụ và khả năng của doanh nghiệp, để đạt được lợi thế cạnh tranh trong những thị trường quan trọng và những khảo sát này hướng dẫn cho ý định kinh doanh lẫn các mục tiêu của doanh nghiệp, chính vì vậy một số ý kiến cho rằng việc hoạch định chiến lược kinh doanh chung được gọi là "xây dựng hay hoạch định chiến lược marketing". Marketing đóng một vai trò quan trọng trong việc triển khai kế hoạch chiến lược của doanh Luan van 8 nghiệp ở nhiều phương diện. Marketing cung cấp hình ảnh có tác dụng dẫn dắt cho việc hoạch định chiến lược, chiến lược của doanh nghiệp phải suy tính trong việc đạt được lợi thế cạnh tranh cùng những nhóm khách hàng quan trọng, marketing cung cấp số liệu cho những nhà lập chiến lược, giúp họ nhận ra cơ hội thị trường hấp dẫn và đánh giá tiềm năng của doanh nghiệp để có thể đạt được lợi thế đó, sau cùng, marketing vạch ra những chiến lược để hoàn thành mục tiêu chung. Các cơ sở chung để xây dựng chiến lược marketing Tiến trình xây dựng chiến lược marketing bao gồm 4 giai đoạn như sau: Bảng 1.1 Quy trình xây dựng chiến lược Marketing Phân tích các yếu tố chiến lược Xây dựng Xác định hệ thống muc tiêu của chiến lược chiến lược Marketing Đánh giá lựa chọn chiến lược phù hợp Giải pháp thực hiện chiến lược đã chọn 1.
Phân tích các yếu tố về môi trường marketing của doanh nghiệp Bảng 1.2 Các yếu tố về môi trường kinh doanh – marketing của Doanh nghiệp Luan van 9 a. Phân tích môi trường các yếu tố vĩ mô. - Môi trường các yếu tố kinh tế: nói lên sự thay đổi về sự tăng trưởng của nền kinh tế, chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, thu nhập thực tế, cán cân thanh toán ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp.