CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC 1. Khái niệm về chiến lược Khái niệm về “chiến lược” đã xuất hiện từ rất lâu và có ý nghĩa “Khoa học về hoạch định và điều khiển các hoạt động” Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn cách thức hay tiến trình hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện mục tiêu lựa chọn. Trong lĩnh vực quân sự, chiến lược là nghệ thuật phối hợp chỉ huy các phương tiện để giành chiến thắng, là nghệ thuật sử dụng lực lượng quân sự biến đổi từ thế yếu thành mạnh, từ bị động sang chủ động để chiến thắng đối phương.
Trong lĩnh vực kinh doanh, thuật ngữ “chiến lược” ám chỉ những quyết định, kế hoạch, hoạt động, những phương tiện quan trọng để tạo sức mạnh tổng hợp nhằm đạt được mục tiêu mong muốn của công ty. Trong lĩnh vực kinh tế, qua các giai đoạn phát triển có rất nhiều định nghĩa về chiến lược, mỗi định nghĩa có ít nhiều quan điểm khác nhau tùy thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả. Theo Jonhson và Scholes, định nghĩa chiến lược trong điều kiện môi trường có nhiều sự thay đổi như sau: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan”. David, “Chiến lược là những phương tiện để đạt tới những mục tiêu dài hạn”.
Porter: Thứ nhất, “Chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt”. Thứ hai, “Chiến lược là sự lựa chọn, đánh đổi trong cạnh tranh”. Thứ ba, “Chiến lược tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty”. Những khái niệm về chiến lược tuy khác nhau về cách diễn đạt, do được rút ra 7 từ thực tiễn kinh tế xã hội khác nhau nhưng chiến lược bao gồm những nội dung cơ bản sau: - Chiến lược xác định những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp.
- Chiến lược đưa ra và lựa chọn các phương án thực hiện. - Chiến lược triển khai và phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả. Như vậy, có thể hiểu chiến lược là tập hợp những quyết định và hành động có liên quan chặt chẽ với nhau để sử dụng hiệu quả các năng lực và nguồn lực của tổ chức nhằm hướng tới các mục tiêu mong muốn 1. Các cấp chiến lược trong doanh nghiệp Dựa vào quy mô của tổ chức kinh doanh, chiến lược được chia thành các cấp: a.
Chiến lược cấp Công ty Chiến lược cấp công ty (hay chiến lược tổng thể) hướng tới các mục tiêu cơ bản dài hạn trong phạm vi của cả công ty. Chiến lược chỉ ra các hoạt động có thể giúp công ty đạt được khả năng sinh lời cực đại, giúp công ty tồn tại hoặc phát triển. Chiến lược cấp công ty là chiến lược chung xác định các hành vi mà Công ty thực hiện nhằm giành lợi thế cạnh tranh. Chiến lược cấp Công ty hiệu quả có thể giúp Công ty đạt được thu nhập trên trung bình bằng việc sáng tạo giá trị.
Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh (cấp đơn vị kinh doanh-SBU) Ở cấp này, chiến lược nêu lên cách thức cạnh tranh thành công trên các thị trường cụ thể, bao gồm cách thức cạnh tranh, cách thức tổ chức định vị trên thị trường để đạt được lợi thế. Thông thường có ba chiến lược cạnh tranh tổng quát: Chiến lược chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa sản phẩm và chiến lược tập trung vào một phân khúc thị trường nhất định. Chiến lược chức năng Chiến lược cấp chức năng hay còn gọi là chiến lược họat động, là chiến lược của các bộ phận chức năng (sản xuất, marketing, tài chính, nghiên cứu và phát triển…). Các chiến lược này giúp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động trong phạm vi công ty, do đó giúp các chiến lược kinh doanh, chiến lược cấp công ty thực hiện một cách nhịp nhàng.
8 Mỗi chiến lược chức năng đều có tính độc lập tương đối nhất định và chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau giữa các chức năng d. Chiến lược toàn cầu Chiến lược toàn cầu là chiến lược kinh doanh trong đó doanh nghiệp có sự trao đổi sản phẩm hay dịch vụ của mình ra thị trường quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa như hiện nay thì chiến lược này rất quan trọng và cần được chú trọng. Để thâm nhập và cạnh tranh trong môi trường toàn cầu, các công ty có thể sử dụng 4 chiến lược cơ bản sau: - Chiến lược đa quốc gia - Chiến lược quốc tế - Chiến lược toàn cầu - Chiến lược xuyên quốc gia.
Mối quan hệ giữa các cấp chiến lược Doanh nghiệp hoạt động như một thực thể sống thống nhất luôn có sự tương tác giữa các hoạt động với nhau. Chiến lược cấp công ty định hướng phát triển cơ bản nhất cho tổ chức, tạo khuôn khổ cho quản lý tất cả các ngành, chức năng và bộ phận của tổ chức. Chiến lược công ty hữu hiệu làm cho tổng thể các đơn vị kinh doanh có được thu nhập tổng hợp vượt quá những gì mà nó có thể làm nếu không có chiến lược. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh phải thích nghi với chiến lược cấp công ty, nhưng cần phải cụ thể hơn và nhấn mạnh đến việc xây dựng, phát triển và duy trì các lợi thế cạnh tranh trong quá trình thực hiện chiến lược.
Các chiến lược chức năng được hình thành trên cơ sở của chiến lược tổng quát và kết quả cụ thể về phân tích và dự báo môi trường, đặc biệt là thị trường. CHIẾN LƯỢC CẤP ĐƠN VỊ KINH DOANH 1. Khái niệm và vai trò chiến lược cấp đơn vị kinh doanh a. Khái niệm về chiến lược cấp đơn vị kinh doanh * Đơn vị kinh doanh chiến lược Đơn vị kinh doanh chiến lược (Strategic Business Unit – SBU) là một bộ phận 9 kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra sản phẩm/ dịch vụ phục vụ một nhóm khách hàng riêng.
Vì thế, các SBU thường có sứ mệnh, mục tiêu và chiến lược kinh doanh riêng. Trong các doanh nghiệp thường có những hệ sản phẩm khác nhau, các dòng sản phẩm có thể trở thành những SBU nếu quy mô đủ lớn, có đối tượng khác hàng, đối thủ cạnh tranh riêng do đó chiến lược kinh doanh đòi hỏi cũng khác so với chiến lược công ty. Tổ chức của đơn vị kinh doanh chiến lược được quyết định bởi nhu cầu thị trường. Thông thường, một đơn vị kinh doanh chiến lược có các đặc điểm sau: - Là một đơn vị kinh doanh riêng (một công ty con, một dòng sản phẩm/dịch vụ chiếm trọn dây chuyền sản xuất).
- Có khách hàng, đối thủ cạnh tranh riêng. - Có người quản lý và chịu trách nhiệm riêng đối với hoạt động kinh doanh. - Là một lĩnh vực được đưa ra kế hoạch riêng trong tổ chức. * Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh Có rất nhiều định nghĩa về chiến lược kinh doanh.
Fombrun: “Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh là tổng thể các cam kết và hành động giúp doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi của họ vào những thị trường sản phẩm cụ thể”. Chỉ có các doanh nghiệp liên tục nâng cấp các lợi thế cạnh tranh của mình theo thời gian mới có khả năng đạt được những thành công lâu dài với chiến lược cấp đơn vị kinh doanh. Điều cốt yếu của chiến lược kinh doanh là “lựa chọn thực hiện các hành động tạo sự khác biệt hay là thực hiện các hoạt động khác hơn so với đối thủ”. Theo luận điểm của Derek F.
Abell về quá trình ra quyết định “để xây dựng chiến lược cấp đơn vị kinh doanh phải bao gồm 03 yếu tố. Đó là nhu cầu khách hành, hay điều gì được thỏa mãn (what), các nhóm khách hành, hay ai được thỏa mãn (who), và các khả năng khác biệt hóa, hay cách thức mà nhu cầu khách hàng được thỏa mãn (how). Ba yếu tố quyết định này xác định cách thức mà một Công ty sẽ cạnh tranh trong một hoạt động kinh doanh hay một ngành”. Vai trò của chiến lược cấp đơn vị kinh doanh Chiến lược kinh doanh đóng vai trò quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp.
10 Cụ thể: Mỗi đơn vị kinh doanh khác nhau có các đối tượng khách hàng mục tiêu, đối thủ cạnh tranh, đặc điẻm kinh doanh khác nhau. Việc xây dựng chiến lược kinh doanh cho từng SBU có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Giúp doanh nghiệp thấy rõ những cơ hội và nguy cơ xảy ra trong hiện tại cũng như trong tương lai. Chính nhờ những phân tích này giúp doanh nghiệp chủ động đối với những tình huống thay đổi từ thị trường.
Chiến lược kinh doanh đóng vai trò như một bức tranh tương lai chi tiết, từ đó giúp doanh nghiệp nhìn nhận sâu sắc hơn về đối thủ cạnh tranh hiện tại, biết được xu hướng kinh doanh để sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất. Các loại chiến lược kinh doanh Căn cứ vào tính chất tập trung của chiến lược có thể phân biệt các chiến lược cấp đơn vị kinh doanh thành chiến lược dẫn đạo về chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa sản phẩm và chiến lược tập trung. Đặc trưng cơ bản của mỗi loại chiến lược được mô tả theo bảng dưới đây. Các loại chiến lược kinh doanh Dẫn đạo chi phí Khác biệt hóa Tập trung Tạo sự khác biệt Thấp (chủ yếu Cao (Chủ yếu bằng Thấp tới cao (giá sản phẩm bằng giá) sự độc đáo) hay độc lập) Phân đoạn thị Thấp (thị trường Cao (nhiều phân Thấp (một hoặc trường khối lượng lớn) đoạn thị trường) vài phân đoạn) Nghiên cứu và Bất kỳ khả năng Năng lực tạo sự Chế tạo và quản trị phát triển, bán tạo sự khác biệt khác biệt vật liệu hàng và marketing nào Nguồn: Chiến lược và chính sách kinh doanh – PGS.
Nguyễn Thị Liên Diệp và Th.s Phạm Văn Nam 11 Chiến lược dẫn đạo chi phí “Chiến lược dẫn đạo chi phí là tổng thể các hành động nhằm cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ có các đặc tính được khách hàng chấp nhận với chi phí thấp nhất trong mối quan hệ với tất cả các đối thủ cạnh tranh”. Mục tiêu của chiến lược này là tạo ra sản phẩm với chi phí thấp nhất để vượt qua đối thủ cạnh tranh, để tồn tại và phát triển.