Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích thực trạng hình thành chiến lược kinh doanh nhà ở của Công ty CP Sông Đà – Thăng Long. Chương 3: Đề xuất chiến lược kinh doanh nhà ở của Công ty CP Sông Đà – Thăng Long. 7 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm chiến lƣợc và chiến lƣợc kinh doanh Chiến lược là một chương trình hành động tổng quát để đạt được mục tiêu cụ thể. Nói đến chiến lược của một tổ chức nào đó, người ta nghĩ ngay đến việc tổ chức đó phải được xác định mục tiêu muốn đạt tới là gì, cách thức thực hiện ra sao và phải đảm bảo cho nó những nguồn lực nào. Theo Boston Consulatinh Group (BCG) thì: “Chiến lược xác định việc phân bổ các nguồn lực sẵn có với mục đích làm thay đổi thế cân bằng cạnh tranh và chuyển lợi thế cạnh tranh về phía mình”.Porter thì: “Chiến lược, để đương đầu với cạnh tranh, là sự kết hợp giữa mục tiêu cần đạt tới và các phương tiện mà doanh nghiệp cần tìm để thực hiện các mục tiêu”.19] Quản trị chiến lược là tập hợp các quyết định và hoạt động đưa đến sự phát triển một chiến lược có hiệu quả hoặc những chiến lược cho phép đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.16] Chiến lược kinh doanh chính là cách thức hoặc con đường mà doanh nghiệp sử dụng để chiến thắng đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh. Chiến lược kinh doanh sẽ giải đáp một loạt các câu hỏi: Doanh nghiệp phải cạnh tranh trên thị trường như thế nào và những loại hoạt động cụ thể nào doanh nghiệp sẽ thực hiện trên thị trường đó (thị trường, quy mô)?.
Doanh nghiệp sẽ làm thế nào để hoạt động tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên những thị trường mục tiêu của doanh nghiệp (khai thác triệt để những lợi thế)? Những nguồn lực nào (con người, kỹ năng, tài sản, tài chính, các mối quan hệ, năng lực kỹ thuật, trang thiết bị) cần phải có để có thể cạnh tranh được (các nguồn lực)? Những nhân tố từ môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (môi trường cạnh tranh hoàn hảo hay không hoàn hảo, 8 z giữa các doanh nghiệp trong nước hay với doanh nghiệp nước ngoài)? Những giá trị và kỳ vọng nào mà những người có quyền hành trong và ngoài doanh nghiệp cần là (các cổ đông và nhà đầu tư góp vốn). Chiến lược trong lĩnh vực kinh doanh nhà ở là một bộ phận chức năng trọng yếu trong nội dung của quản trị, nó phối hợp với các bộ phận quản trị chức năng khác nhau của doanh nghiệp kinh doanh nhà như: quản trị đầu tư xây dựng nhà ở, quản trị nhân sự - tổ chức, quản trị tài chính. để xác lập tư duy chiến lược hướng về thị trường lấy khách hàng mục tiêu làm trung tâm hạt nhân theo tư duy của quản trị kinh doanh hiện đại [2, tr.1: Chiến lƣợc kinh doanh và các chức năng hỗ trợ Nguồn: Giáo trình Quản trị chiến lược [18] Tóm lại, tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp. Theo cách hiểu này, thuật ngữ chiến lược kinh doanh được dùng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất: Xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp; Đưa ra các chương trình hành động tổng quát; Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bổ nguồn tài nguyên để thực hiện mục tiêu đó.
Dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng tựu trung lại chiến lược là những quyết định hay lựa chọn để thành công trong dài hạn đối với hoạt động của doanh nghiệp. Vai trò chiến lƣợc kinh doanh trong doanh nghiệp Việc xây dựng (hoạch định) và thông tin về chiến lược là một trong những hoạt động quan trọng nhất của người quản lý cao cấp. Hầu hết những thất bại trong việc kinh doanh đều có thể bắt nguồn từ việc thiếu một chiến lược đúng đắn. Nếu không có một chiến lược thích hợp được thực thi một cách có hiệu quả thì thất bại hầu như là chắc chắn.
Đôi khi người ta thờ ơ với việc lập chiến lược kinh doanh bởi người quản lý không hiểu đầy đủ về (1) chiến lược là gì và vì sao chúng lại quan trọng đến vậy; (2) làm thế nào để chiến lược khớp với toàn bộ quá trình lập kế hoạch; (3) xây dựng chiến lược như thế nào và (4) làm thế nào để thực thi chiến lược bằng cách gắn liền chúng với quá trình ra các quyết định hiện tại. Chiến lược kinh doanh đem lại những lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp: - Giúp doanh nghiệp thấy rõ hướng đi của mình trong tương lai để nhà quản trị xem xét và quyết định doanh nghiệp nên đi theo hướng nào và khi nào thì đạt mục tiêu. - Giúp cho các nhà quản trị luôn chủ động trước những thay đổi của môi trường. Giúp các nhà quản trị thấy rõ cơ hội và nguy cơ xảy ra trong kinh doanh hiện tại để phân tích, đánh giá, dự báo các điều kiện môi trường kinh doanh trong tương lai.
Từ đó giúp doanh nghiệp tận dụng được các cơ hội, đẩy lùi nguy cơ để chiến thắng trong cạnh tranh, giành thắng lợi. - Giúp cho doanh nghiệp khai thác và sử dụng tối đa các tài nguyên tiềm năng của mình, từ đó phát huy được sức mạnh tối đa của doanh nghiệp để phát triển đi lên. - Giúp cho doanh nghiệp phân bổ các nguồn lực của mình và các lĩnh vực, trong từng thời điểm một cách hợp lý. 10 z - Giúp cho doanh nghiệp tăng sự liên kết, gắn bó của nhân viên, quản trị viên trong việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp.
Để từ đó tạo ra được sức mạnh nội bộ của doanh nghiệp. - Giúp cho doanh nghiệp tăng doanh số, năng suất lao động và tăng hiệu quả quản trị, tránh được các rủi ro, tăng khả năng phòng ngừa và ngăn chặn vấn đề khó khăn xảy ra đối với doanh nghiệp. Với những lý do trên có thể khẳng định việc xây dựng chiến lược kinh doanh tốt trong các doanh nghiệp là vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nước cũng như trên thế giới. Phân loại chiến lƣợc 1.
Phân loại theo cấp độ quản lý Trên thực tế có 3 cấp độ chiến lược: chiến lƣợc cấp công ty, chiến lƣợc cấp kinh doanh (chiến lƣợc cạnh tranh) và chiến lƣợc cấp chức năng. Chiến lược công ty xử lý vấn đề liên quan đến quản trị danh mục kinh doanh mà công ty thực hiện. Chiến lược kinh doanh (cạnh tranh) đề cập đến chiến lược cho một lĩnh vực kinh doanh cụ thể liên quan đến đối thủ cạnh tranh để đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững. Chiến lược chức năng điều chỉnh vấn đề các bộ phận chức năng của công ty sẽ làm để đạt được chiến lược cạnh tranh đó được đặt ra.
Ba cấp độ này nên phù hợp và thống nhất với nhau. Các cấp độ chiến lƣợc trong doanh nghiệp Nguồn: Giáo trình Quản trị chiến lược [18] Chiến lược cấp công ty Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc điều hành và các giám đốc điều hành cao cấp ở phạm vi doanh nghiệp. Những người này có nhiệm vụ cơ bản và thẩm quyền cá nhân trong việc quyết định những chiến lược lớn có ảnh hưởng đến toàn bộ doanh nghiệp [8,tr. Chiến lược cấp kinh doanh Giám đốc các đơn vị kinh doanh (SBU) có trách nhiệm về quản trị chiến lược trong đơn vị kinh doanh [8,tr.
Chiến lược cấp chức năng Giám đốc các bộ phận chức năng có trách nhiệm quản trị chiến lược theo chức năng được phân công. Việc phân cấp trong quản trị chiến lược là cần thiết để phát huy tính chủ động sáng tạo của các cấp nhưng phải luôn đảm bảo tính xuyên suốt và nhất quán của chiến lược [8,tr. Phân loại chiến lược theo chức năng Căn cứ vào chức năng mà chiến lược có thể được chia thành những nhóm sau: 12 z Nhóm chiến lược kết hợp Trong nhóm chiến lược này có chiến lược kết hợp về phía trước, kết hợp về phía sau, và kết hợp theo chiều ngang. - Kết hợp về phía trước: doanh nghiệp thực hiện để tăng quyền kiểm soát hoặc quyền sở hữu đối với các nhà phân phối hoặc bán lẻ.
- Kết hợp về phía sau: doanh nghiệp thực hiện tăng quyền sở hữu hoặc kiểm soát đối với các nhà cung cấp. Điều này sẽ cho phép doanh nghiệp ổn định trong việc cung cấp, kiểm soát được chi phí đầu vào. - Kết hợp theo chiều ngang: doanh nghiệp muốn kiểm soát các đối thủ cạnh tranh. Chiến lược này cho phép tập trung tài nguyên, mở rộng phạm vi hoạt động và làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nhóm chiến lược chuyên sâu Trong nhóm này có các chiến lược như chiến lược thâm nhập thị trường, chiến lược phát triển thị trường và chiến lược phát triển sản phẩm. - Chiến lược thâm nhập thị trường: Làm tăng thị phần cho các sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có trong thị trường hiện tại của doanh nghiệp. - Chiến lược phát triển thị trường: Đưa vào những khu vực địa lý mới các sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có của doanh nghiệp. - Chiến lược phát triển sản phẩm: Đưa vào thị trường hiện tại các sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự sản phẩm hiện có của doanh nghiệp nhưng đã được cải tiến sửa đổi.
Nhóm chiến lược mở rộng hoạt động Các chiến lược mở rộng hoạt động bao gồm chiến lược đa dạng hóa hoạt động đồng tâm, đa dạng hóa hoạt động theo chiều ngang và đa dạng hóa hoạt động hỗn hợp. - Đa dạng hóa hoạt động đồng tâm: Đưa vào thị trường hiện hữu những sản phẩm hơặc dịch vụ mới có liên quan đến các sản phẩm hiện thời. 13 z - Đa dạng hóa hoạt động theo chiều ngang: Đưa vào thị trường hiện hữu cho nhóm khách hàng hiện tại những sản phẩm hoặc dịch vụ mới, không liên quan đến các sản phẩm đang có. - Đa dạng hóa hoạt động hỗn hợp: đưa vào thị trường hiện hữu tại những sản phẩm hoặc dịch vụ mới, không liên quan đến các sản phẩm đang có.
Nhóm chiến lược khác Ngoài các chiến lược đã nêu ở trên, trong thực tế còn có một số chiến lược khác mà doanh nghiệp có thể áp dụng như chiến lược liên doanh, thu hẹp hoạt động, từ bỏ hoạt động, thanh lý. - Chiến lược liên doanh: khi một hay nhiều doanh nghiệp liên kết với nhau để theo đuổi một mục tiêu nào đó.