Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA CHIEN LƯỢC KHÁCH HÀNG DOI VỚI NGÂN HÀNG THUONG MẠI TRONG BOI CẢNH HỘI NHẬP KINH TE QUOC TE 1. Khách hang của ngân hang thương mai 1. Khái niệm về khách hàng Quá trình tồn tại và Phát triển của các NHTM luôn là quá trình đi tìm câu trả lời “làm thế nào để chinh phục KH?”. Tất cả các SPDV_ được ngân hàng cung cấp đều nhằm mục đích để thỏa mãn một hay một số nhu cầu nhất định của KH, dé không nằm ngoài hi vọng được KH hài lòng chấp nhận sử dụng.
KH được mặc nhiên công nhận là quan trọng nhất và là lí do cho sự tồn tại của bất cứ một ngân hàng nào. Vậy thực sự KH của NHTM là ai? Có những đặc điểm gì? Vì sao hoạt động của các NHTM phải luôn hướng tới KH. KH của NHTM là bất cứ một cá nhân, một nhóm người, một tổ chức nào đó có sử dụng sản phẩm của ngân hàng trên cơ sở những cam kết giữa họ và ngân hàng. KH của NHTM rất đa dạng và phong phú, khi tiếp cận các dịch vụ của ngân hàng họ có những nhu cầu rất khác nhau, vì vậy các ngân hàng phải tìm mọi cách để thỏa mãn các nhu cầu của họ.
Bằng phương cách nào là phụ thuộc vào ý tưởng kinh doanh của từng ngân hàng, được hình thành bởi những tác động của sự phát triển và đa dạng hóa các nhu cầu của KH. Vai trò của khách hàng KH có vai trò vô cùng quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào bởi họ là chìa khóa để tạo ra khả năng sinh lời cho các doanh nghiệp. Theo Philip Kotler: “Những công ty giỏi về marketing xếp theo thứ tự tâm quan trọng thì KH được xếp đâu tiên. Việc thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của KH so với các đối thủ cạnh tranh sẽ tạo khả năng sinh lời cho công ty”[10].
* KH là trung tâm, là định hướng của ngân hàng: Theo Joan Koop Cannie và Captine thì: “Không có KH, các doanh nghiệp không có lý do dé tôn tai” [22]. Đúng vay, KH là lý do tồn tại của ngân hàng nếu không có KH thì không có ngân hàng, bởi nếu không có KH có nghĩa là SPDV của ngân hàng sẽ không có người mua, người sử dụng. Bởi vậy, các ngân hàng phải bằng mọi cách, mọi giá có được KH để tổn tại. KH được đặt vào vi trí trung tâm trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
* KH là cơ sở tiền dé, nên tang cho hoạt động của ngân hàng: Khi đã xây dựng thu hút được một số lượng KH mục tiêu nhất định sẽ tạo nền tảng cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khi có KH rồi ngân hàng sẽ có thị trường và ngân hàng sẽ thuận lợi hơn trong việc đưa ra các chính sách như chính sách SPDV, chính sách giá cả, chính sách phân phối SPDV. để nhằm mục đích phục vụ KH, đây chính là nền tảng cho hoạt động của một ngân hàng. * KH là mục tiêu, là cơ sở tạo nguồn thu cho ngân hàng: Sự phát triển của ngân hàng gắn liền với KH, ngân hàng tồn tai được chính là nhờ KH của mình đã tin ở ngân hàng gửi tiền, vay vốn và thực hiện các dịch vụ ngân hàng.
tạo cho ngân hàng có một vị thế cao hơn. Lợi nhuận mà ngân hàng thu được là nhờ có phần đóng góp to lớn của KH, từ đó ngân hàng có thê trang trải các chi phí cho ngân hàng hoạt động và tạo đà cho sự phát triển kinh doanh của ngân hàng. Đặc điểm của khách hàng * KH của NHTM rất da dạng: KH của ngân hàng thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi ngành và vùng kinh tế khác nhau: có thể là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các hộ gia đình hay là các cá nhân như cán bộ, công chức, sinh viên, công nhân, sinh viên. Năng lực tai chính, năng lực sản xuất kinh doanh, đạo đức.
của từng KH cũng rất khác nhau. Các NHTM thường nghiên cứu và phân loại KH theo từng nhóm, mỗi nhóm có chiến lược, phương pháp, nghệ thuật thu hút khác nhau tùy theo điều kiện cụ thể của từng KH. * SỐ lượng KH của NHTM lớn và hoạt động trên phạm vi rộng: Tất cả mọi chủ thể trong nên kinh tế đều có thé quan hệ giao dịch với ngân hàng. Hàng ngàn doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, hàng triệu hộ gia đình, cá nhân, ngoài ra còn có các KH là người nước ngoài.
Hầu hết đều có nhu cầu sử dụng SPDV của ngân hàng nên lực lượng KH của NHTM rất đông và trên diện rộng, ở khắp mọi miền đất nước. Do đặc điểm này, nên các NHTM có mạng lưới hoạt động rộng hơn nhiều so với các doanh nghiệp khác. * KH tham gia trực tiếp vào quá trình cung ứng SPDV, đồng thời là người thụ hưởng và trực tiếp đánh giá chất lượng các SPDV của ngân hàng: KH của ngân hàng vừa là nhà cung cấp vừa là nhà tiêu thụ. Người gửi tiền mang tiền đến gửi ngân hàng và ngân hang sử dụng chính sé tiền đó để cho vay đối với những KH khác.
KH là người trực tiếp sử dụng SPDV ngân hang, do đó cũng là người trực tiếp đáng giá chất lượng các SPDV đo ngân hàng cung cấp. KH mua một SPDV của ngân hàng thực chất là mua một khả năng thỏa mãn nhu cầu nào đó, KH chỉ đánh giá được chất lượng SPDV sau khi đã sử dụng chúng. Do vậy, đề thu hút và giữ được KH, ngân hàng phải tạo được sự khác biệt trong việc thiết kế các SPDV và đảm bảo thỏa mãn nhu cầu KH. Theo Philip Kotler: “Các ngân hang déu có thé nhận ra rang thu hút mọi người đến ngân hàng thì dễ nhưng biến họ thành KH trung thành mới khó.
Phân loại khách hàng Khác với KH của các doanh nghiệp khác, KH của NHTM có đặc điểm, nhu cầu, năng lực kinh doanh, tiềm lực tài chính. rất đa dạng và phức tạp. Dé phục vụ tốt hơn nhu cầu của KH, ngân hàng phải phân loại KH để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu, theo dõi KH dé từ đó đề ra những chính sách. chiến lược KH phù hợp với nhu cầu của từng nhóm KH, đồng thời thực hiện tốt mục đích kinh doanh của mình.
Có rất nhiều nhóm KH khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại của NHTM như: 1. Phân loại theo nghiệp vụ ngân hàng: - KH gửi tiền: Đây là nhóm KH gửi tiền vào ngân hang dé hưởng một mức thu nhập qua mức lãi mà ngân hang trả cho họ. KH gửi tiền có thé là cá nhân, là các tổ chức kinh tế, hay các tổ chức xã hội, hoặc các tổ chức tài chính phi ngân hàng. - KH vay vốn: Là nhóm KH quan hệ với ngân hàng để thảo mãn nhu cầu sử dụng một khoản vốn không phải của mình để nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng tạo lợi nhuận cho chính mình và cả nền kinh tế hiện nay.
Đây là nhóm KH tạo ra thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, KH vay vốn của ngân hàng rất da dạng và phức tạp họ có thể là cá nhân, doanh nghiệp, hộ gia đình, tô hợp tac. - KH sử dụng dịch vụ phí tín dụng: Là nhóm KH quan hệ với ngân hàng với mục đích sử dụng các dịch vụ như: thanh toán chuyền tiền trong và ngoài nước, mua bán ngoại tệ, dịch vụ ủy thác, thông tin tư vấn, bảo lãnh, môi giới mua bán chứng khoán. Nhóm KH gửi tiền, nhóm KH vay vốn và nhóm KH sử dụng dịch vụ phi tín dụng có mối quan hệ biện chứng với nhau, khi ngân hàng đáp ứng tốt nhu cau nào đó của nhóm KH này, sẽ tạo điều kiện để đáp ứng tốt nhu cầu của nhóm KH kia và ngược lại. Vì vậy các ngân hàng cần phải quan tâm đến lợi ích tổng thể trong quan hệ với KH để có chính sách phù hợp với từng nhóm KH cũng như từng KH và có chính sách phục vụ toàn diện các nhu cầu của KH, có như vậy ngân hàng mới tạo được một đội ngũ KH trung thành với mình.
Phân loại theo thành phan kinh tế: - KH là doanh nghiệp: Nhóm KH này sử dụng hau hết các SPDV ngân hàng, được ngân hàng xác định là đối tượng KH quan trọng và có xu hướng phục vụ trọn gói đối với họ. Nhóm KH này có thể là các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đối với nhóm KH này các ngân hàng phải có chiến lược KH thận trọng, đặc biệt là trong phân loại đánh giá để đưa ra quyết định đúng đắn trong chính sách phục vụ KH. - KH là hộ gia đình và cá nhân: Đây là nhóm KH có nhu cầu nhiều về SPDV, đặc biệt là SPDV ngân hàng bán lẻ như mở tài khoản tiền gửi thanh toán, sử dụng thẻ ATM, thẻ tín dụng, gửi tiền tiết kiệm, các dịch vụ ủy thác.
Nhóm KH này chính là những phương tiện thông tin tuyên truyền về uy tín, chất lượng sản phẩm, phong cách giao tiếp. của ngân hàng, chính vì vậy ngân hàng cần quan tâm đến việc tư vấn cho họ để họ tin tưởng và trở thành KH truyền thống của ngân hàng. Phan loại theo thời gian quan hệ: - KH truyền thống: Là những KH đã sử dụng sản phẩm của ngân hàng nhiều lần và trong một thời gian tương đối dài. Đây là nhóm KH hoạt động ổn 10 định, trung thành với ngân hàng, giúp ngân hàng có điều kiện tuyên truyền, quảng bá, xây dựng thương hiệu và là điều kiện để phát triển thêm KH mới.
- KH mới: Là những KH mới sử dụng sản phâm của ngân hàng lần đầu tiên hay một số ít lần với thời gian quan hệ còn ngắn. Có những KH chỉ quan hệ với ngân hàng nhằm mục đích thăm dò, có KH do mới có nhu cầu về SPDV, có KH đến với ngân hàng do ngân hàng có chính sách hấp dẫn hơn so với các ngân hàng khác. - KH tiềm năng: Là những cá nhân, tổ chức chưa sử dụng SPDV của ngân hàng nhưng trong tương lai họ có khả năng sẽ sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Nhóm KH này có vai trò rất quan trọng trong việc cơ cấu lại KH, cơ cấu lại SPDV của ngân hàng.
Ngân hàng cần có chính sách, chiến lược, giải pháp thích hợp để thu hút họ. Một chiến lược KH có hiệu quả là phải duy trì được KH truyền thống, biến những KH mới thành KH truyền thống và đánh thức được thị trường tiềm năng. Phân loại theo ngành kinh té: - KH hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng: bao gồm các tô chức kinh tế, các doanh nghiệp.