MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án GDĐH có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định đến sự phát triển KTXH của một quốc gia. Trong thời đại toàn cầu hóa, kinh tế tri thức và sự phát triển nhanh chóng của KHCN, nhất là công nghệ thông tin như hiện nay, thì giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng được coi là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Vì vậy, việc hoạch định và thực thi chính sách phát triển giáo dục một cách đúng đắn, thích hợp với đặc điểm văn hóa, trình độ KTXH và nhu cầu của thị trường sức lao động, hội nhập thành công vào quá trình toàn cầu hóa được coi là ưu tiên hàng đầu trong hệ thống chính sách công của tất cả các quốc gia.
Khẳng định vai trò to lớn của giáo dục đối với sự phát triển KTXH của đất nước, Nghị quyết về phát triển giáo dục của nước CHDCND Lào đã chỉ rõ giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân… đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước các chương trình, kế hoạch phát triển KTXH [47]. Trong bối cảnh hiện nay, có nhiều vấn đề đã trở nên hết sức cấp bách cần nghiên cứu tìm kiếm giải pháp để tháo gỡ đối với GDĐH của nước CHDCND Lào. NSNN tính trên đầu sinh viên giảm xuống rất nhanh; một mặt, tạo ra nguy cơ giảm sút chất lượng đào tạo; mặt khác, buộc phải tăng học phí làm giảm khả năng tiếp cận GDĐH của người dân, làm trầm trọng thêm vấn đề công bằng trong GDĐH. Quy mô và sự đa dạng GDĐH sẽ vượt quá khả năng quản lý và tầm kiểm soát của Nhà nước nếu không đổi mới mạnh mẽ cách thức quản lý.
Nhiều vấn đề rất cơ bản của GDĐH vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo như chiến lược hội nhập toàn cầu hóa về GDĐH; chính sách du học; tổ chức phân tầng GDĐH; hiệu quả và hiệu suất trong GDĐH; chính sách chia sẻ chi phí giữa Nhà nước, người học và cộng đồng; chính 1 sách học bổng, học phí, đảm bảo công bằng xã hội trong GDĐH; chính sách tài chính đối với các trường ĐHCL… Có thể nói rằng, việc huy động các NTC cho phát triển GDĐH nói riêng và nghiên cứu, thiết kế các chính sách công về GDĐH nói chung đã thực sự trở thành một nhu cầu hết sức cấp bách. Với xu thế phát triển mạnh mẽ nền kinh tế tri thức trên thế giới, tiến trình xã hội hóa giáo dục ngày càng được đẩy mạnh, sự cạnh tranh giữa các cơ sở GDĐH khác, buộc các trường ĐHCL ở nước CHDCND Lào phải nghiên cứu, đổi mới hoạt động GDĐT một cách hiệu quả để thực hiện sứ mệnh được giao. Để thực hiện được những nhiệm vụ đó, NTC phục vụ cho các hoạt động giáo dục của các trường ĐHCL trở nên quan trọng. Trong điều kiện khả năng của NSNN còn hạn chế, bên cạnh việc tăng cường tính tự chủ của các trường ĐHCL thì cần thiết phải xây dựng một cơ chế, một hành lang pháp lý cho các trường huy động được các NTC nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, NCKH và phục vụ phát triển các hoạt động của trường.
Chính vì vậy, huy động các NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL là vấn đề thời sự cấp thiết nhằm thực hiện mục tiêu phát triển GDĐH ở nước CHDCND Lào. Xuất phát từ lý do nêu trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài:“Huy động NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL ở nước CHDCND Lào” làm chủ đề nghiên cứu của luận án tiến sĩ. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 2. Các nghiên cứu trong nước Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế, đổi mới quản lý NSNN ở nước CHDCND Lào đã được Đảng NDCM và Chính phủ CHDCND Lào đặc biệt quan tâm.
Chính yếu tố này đã thúc đẩy các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế nói chung và tài chính công nói riêng đầu tư nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp thích hợp nhằm 2 huy động các NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL ở nước CHDCND Lào. Các bài bào, tạp chí Có nhiều bài báo được đăng tải trên tạp chí của ngành Tài chính Lào xuất bản hàng tháng bàn luận về vấn đề phân cấp NSNN và quản lý chi NSNN cho giáo dục nói chung, tiêu biểu như: “Đổi mới phân cấp quản lý ngân sách địa phương ở tỉnh Luangnamtha” của tác giả Khamkeo Chanthavong đăng trên Tạp chí Tài chính tháng 4/2010; “Tăng cường quản lý chi ngân sách Thành phố Viêng chăn” của tác giả Khamtanh Phommaseng đăng trên Tạp chí Tài chính tháng 2/2009; “Đổi mới cách thức phân bổ kinh phí NSNN cho giáo dục phổ thông ở CHDCND Lào” của tác giả Sisouphan đăng trên Tạp chí Tài chính tháng 5/2011…[21]. Điểm chung nhất của các bài báo là chủ yếu đề xuất những ý kiến mang tính tác nghiệp gắn liền với vị trí mà các tác giả đang phải thực thi trách nhiệm trong quản lý NSNN ở một ngành, hay ở một địa phương cụ thể. Do vậy, những thông tin từ quản lý NSNN trên một giác độ nào đó của thực tiễn ở mỗi địa phương hay mỗi ngành đã được trình bày có giá trị tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách về quản lý NSNN ở Bộ Tài chính CHDCND Lào, hay các quan chức trong bộ máy Chính phủ có trách nhiệm trong quản lý kinh tế của đất nước.
Mặt khác, đây cũng là diễn đàn thể hiện tính dân chủ trong luận bàn, đánh giá và tham vấn chính sách về quản lý NSNN một cách rộng rãi, thể hiện quan điểm phát huy dân chủ của Chính phủ trong quản lý kinh tế nói chung và NSNN nói riêng. Tuy nhiên, hàm lượng nghiên cứu mang tính lý luận và những đòi hỏi trình bày phải có tính lôgic cho các đề xuất, kiến nghị hoặc các luận giải về hiện tượng đã và đang diễn ra trong thực tiễn gắn với huy động các NTC cho phát triển GDĐH vẫn là một khoảng trống chưa được nghiên cứu cụ thể và chuyên sâu; đặc biệt là nghiên cứu về đầu tư từ NSNN cho giáo dục ĐHCL. Các luận án và luận văn thạc sĩ 3 (1) Khamphuvieng Nanthavong (2011), luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài ‘‘Giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho phát triển GDĐH ở Lào’’, Học viện Tài chính [12]. Tác giả cho rằng đầu tư cho GDĐT là đầu tư cho con người, là động lực trực tiếp của sự phát triển KTXH.
Nhưng đầu tư cho GDĐT là rất tốn kém, là một gánh nặng đối với các nước đang phát triển trong đó có Lào, mà hiệu quả nó mang lại không thể thấy ngay được. Vì vậy, việc khai thác sử dụng các NTC cho GDĐT có ý nghĩa rất quan trọng nhằm phát triển GDĐH ở Lào trong giai đoạn hiện nay. Thông qua những vấn đề về lý luận và thực trạng huy động NTC cho GDĐH Lào, luận văn đã giải quyết được những vấn đề sau: - Hệ thống các lý luận cần nghiên cứu về huy động NTC phải theo nguyên tắc của nền kinh tế thị trường, giảm dần tình trạng bao cấp, tăng cường huy động NTC ngoài NSNN. - Phân tích thực trạng huy động NTC cho GDĐH ở Lào và đưa ra kết luận NTC cho GDĐH chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về quy mô sinh viên và các điều kiện đảm bảo chất lượng GDĐH; nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do chúng ta chưa xác lập được một cách đầy đủ cơ chế, chính sách phù hợp để huy động NTC cho phát triển GDĐH.
- Đề xuất 5 nhóm giải pháp lớn nhằm tăng cường huy động các NTC để phát triển GDĐH ở Lào. Những giải pháp đưa ra được giải quyết đồng bộ trên nhiều phương diện. Tuy vậy, huy động các NTC cho phát triển GDĐH ở nước CHDCND Lào là vấn đề rộng lớn và phức tạp, vì vậy khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu là nghiên cứu sâu thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về GDĐH và huy động các NTC cho phát triển GDĐH nói chung và giáo dục ĐHCL nói riêng ở nước CHDCND Lào. Tác giả luận án chọn cách tiếp cận đổi mới quản lý NSNN ở nước CHDCND Lào theo hướng gắn kết với đổi mới về thể chế.
Những thành công nổi bật của luận án là: - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phân cấp quản lý NSNN và thống nhất nhận thức phân cấp quản lý NSNN nhất thiết phải gắn kết chặt với mục tiêu và các yêu cầu của phân cấp quản lý về KTXH. - Phân tích và làm sáng tỏ được mô hình phân cấp quản lý NSNN ở nước CHDCND Lào 1986 - 2009 qua 4 giai đoạn gắn liền với những thay đổi về cơ chế phân cấp quản lý về KTXH qua mỗi giai đoạn đó. - Đề xuất 06 nhóm giải pháp nhằm tăng cường phân cấp quản lý NSNN ở nước CHDCND Lào giai đoạn 2010 - 2015. Thành công của luận án là không thể phủ nhận, nhưng những vấn đề lý luận và thực tiễn mới chỉ được nhìn nhận trên giác độ phân cấp về quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi gắn với cơ quan công quyền các cấp ở nước CHDCND Lào; trong đó có phân cấp nhiệm vụ chi NSNN cho giáo dục và GDĐH.
Khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu thêm là trách nhiệm của chính các cơ quan công quyền các cấp đó trong việc sử dụng công cụ NSNN để thúc đẩy sự phát triển KTXH đã được phân cấp quản lý; đặc biệt là quản lý NSNN đầu tư cho giáo dục và giáo dục ĐHCL. Tác giả luận án có cách tiếp cận nghiên cứu về NSNN ở CHDCND trên giác độ cân đối với những thành công đáng ghi nhận: - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về cân đối NSNN trên các giác độ cân đối giữa thu và chi bằng tiền, cân đối ở tầm vĩ mô theo cơ cấu ngành kinh tế. - Phân tích thực trạng cân đối thu và chi NSNN, khả năng gây ra các tác động của nó tới sự phát triển KTXH ở nước CHDCND Lào những năm 1999 - 2010. 5 - Đề xuất hệ thống các giải pháp gồm 03 nhóm theo cách tiếp cận từ hoàn thiện chính sách quản lý thu và chi, hoàn thiện về nguyên tắc và phương pháp cân đối, hoàn thiện về tổ chức các biện pháp mang tính nghiệp vụ để cân đối thu và chi NSNN giai đoạn 2011 - 2015.