CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Quan niệm CSR và chiến lược CSR 1. Sự ra đời và phát triển triết lý CSR trong quản trị kinh doanh Thuật ngữ trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) được đề cập từ những năm đầu thế kỷ 20. Trong số đó, đáng lưu ý là tác giả Bowen với tác phẩm “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” trong những năm 1950 được coi là tiên phong trong cách tiếp cận trách nhiệm xã hội.
Bowen đã định nghĩa CSR là “nghĩa vụ của doanh nhân để theo đuổi các chính sách, ra các quyết định hoặc thực hiện chuỗi các hoạt động được xã hội mong đợi xét về mục tiêu và giá trị” (Bowen trích trong Carroll, 1979). Sau đó, có sự phát triển mạnh mẽ trong quan niệm về CSR. Carrol (1979) cho rằng CSR bao hàm cách trách nhiệm kinh tế, luật pháp, đạo đức và trách nhiệm đáp ứng sự kỳ vọng của xã hội. Theo quan niệm của Cộng đồng Châu Âu, đó là “việc doanh nghiệp cân nhắc các yếu tố môi trường và xã hội trong các họat động kinh doanh của mình và trong quan hệ qua lại với các bên hữu quan dựa trên tinh thần tự nguyện” (EC, 2003).
Xu hướng nghiên cứu về CSR cũng sự chuyển dịch mạnh mẽ thành các phân nhóm khác nhau. Nếu như trước đây, trách nhiệm xã hội được gắn liền với tính đạo đức thì nay đã là chủ đề nghiên cứu gắn liền với doanh nghiệp và cơ chế quản trị.1: Sự phát triển của các cách tiếp cận CSR Góc độ Đạo đức Kinh doanh Quản trị công ty tiếp cận CSR Nghiên cứu Giá trị và Quy tắc Giá trị Tác động Mục tiêu và cách Hợp pháp Lợi thế cạnh Lợi thế phối kết tiếp cận tranh hợp Đạo đức Kinh Kinh tế quản trị Khoa học chính trị doanh Quản trị chiến Khoa học phức Triết lý đạo đức lược hợp Kiểm soát đạo đức Đổi mới hệ thống Câu hỏi nghiên cứu Cái gì/Tại sao? Tại sao/ Như thế Câu hỏi “Tiếp đến nào? là gì?” Nguồn: Theo Nigel Roome trích trong MacGregor và Fontrodona (2011) Ngày nay, CSR đã trở thành một triết lý về hành vi và quản trị của doanh nghiệp được nhiều doanh nghiệp trên thế giới lựa chọn áp dụng và con số này không ngừng tăng lên (Carroll & Shabana, 2010). Lựa chọn này có thể không phải do doanh nghiệp tự nguyện mà chỉ để tuân thủ theo pháp luật (ví dụ như trong lĩnh vực môi trường), hoặc là doanh nghiệp tự nguyện đóng góp một số nguồn lực (ví dụ con người, thời gian, kiến thức, kỹ năng hoặc là tiền) cho lợi ích cộng đồng, hoặc đóng góp vào việc cải thiện một số điều kiện thường nằm ngoài phạm vi của công ty (Moon & DeLeon, 2007). Theo Carroll (2010), CSR có thể bao hàm chuẩn mực mà các bên liên quan bên trong và bên ngoài coi là đúng đắn và công bằng, hưởng ứng lại sự mong đợi của xã hội về quyền công dân, hoặc bao gồm các chương trình đang hoạt động nhằm thúc đẩy phúc lợi và thiện chí của con người.
Cũng theo quan điểm tương tự như vậy, một định nghĩa phổ biến được sử dụng là "một cam kết để cải thiện phúc lợi xã hội thông qua thực tiễn kinh doanh tự chủ và đóng góp từ các nguồn tài nguyên của công ty "(Du, et al. 8; Kotler 13 & Lee, 2005; Mackey, et al., 2007; McWilliams & Siegel, 2000; Waddock & Graves, 1997). Như vậy, quan điểm của Carroll hay của các nhà nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng định nghĩa này theo quan điểm phi chiến lược và dựa trên lý thuyết các bên hữu quan. Mặc dù các quan điểm này đã được áp dụng phổ biến nhưng không hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu theo quan điểm chiến lược.
Hiện nay, đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo cách tiếp cận CSR theo quan điểm chiến lược thay vì đạọ đức kinh doanh như trước đây. Nói cách khác, CSR đang hướng đến quan điểm chiến lược (thay vì đạo đức kinh doanh) với cơ cấu tổ chức như là một đơn vị phân tích (thay vì là một đơn vị của xã hội). Theo đó, CSR là: “những hành động nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh và uy tín của một công ty” (Hill, et al. Như vậy, doanh nghiệp sử dụng CSR như là công cụ chiến lược để đáp ứng sức ép từ thị trường và khách hàng với các hành động vượt hơn quy định của luật pháp về môi trường, xã hội (Carroll & Shabana, 2010; Wood, 2010).
Khái niệm và bản chất CSR CSR là sự bao hàm của ba khái niệm: doanh nghiệp, xã hội và trách nhiệm. CSR chỉ ra mối quan hệ giữa doanh nghiệp (hoặc các tổ chức lớn hơn) và cộng đồng xã hội có liên quan. Theo đó “xã hội” được hiểu theo một nghĩa rộng bao gồm nhiều cấp khác nhau trong đó có cả các bên hữu quan có lợi ích hiện thời liên quan đến các hoạt động của doanh nghiệp (Werther & Chandler, 2006). Xét về bản chất, CSR có thể bao hàm chuẩn mực mà các bên liên quan bên trong và bên ngoài coi là đúng đắn và công bằng, hưởng ứng lại sự mong đợi của xã hội về quyền công dân, hoặc bao gồm các chương trình đang hoạt 14 động nhằm thúc đẩy phúc lợi và thiện chí của con người.
Hình sau đây trình bày rõ hơn mô hình Kim tự tháp của Carroll – được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về CSR.1: Mô hình Kim tự tháp Trách nhiệm kinh tế: đây là trách nhiệm đầu tiên. Các mục tiêu như tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trưởng là điều kiện tiên quyết bởi lẽ đây là mục tiêu tối thượng của doanh nhân. Mục tiêu kinh tế không được thỏa mãn thì doanh nghiệp cũng không thể tồn tại để đáp ứng các trách nhiệm khác. Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp.
Trách nhiệm tuân thủ pháp luật: chính là sự cam kết của doanh nghiệp với xã hội. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều nằm trong khuôn khổ pháp luật. Trong quá trình tìm kiếm các mục tiêu kinh tế, doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của luật pháp. Do đó, trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai thành tố cơ bản, không thể thiếu của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
15 Trách nhiệm đạo đức: là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được đưa vào văn bản luật. Việc doanh nghiệp tuân thủ pháp luật là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra. Xã hội kỳ vọng doanh nghiệp thực hiện các hoạt động có lợi ích cho xã hội hơn cả những điều quy định trong luật pháp. Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện nhưng lại chính là trọng tâm của trách nhiệm xã hội.
Trách nhiệm từ thiện: là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài sự trông đợi của xã hội, như quyên góp xây nhà tình nghĩa, ủng họ đồng bào lũ lụt, tài trợ cho trẻ em vùng sâu vùng xa…Điểm khác biệt giữa trách nhiệm từ thiện và đạo đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện. Nếu doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội đến mức độ này vẫn được coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi. Quan niệm về chiến lược CSR Ở góc độ thực tiễn và học thuật, thuật ngữ chiến lược CSR được sử dụng ngày càng nhiều (Coutinho và Macedo-Soares, 2002, trích trong Sousa Filho và cộng sự, 2010). Theo Andrews (1987), các chiến lược cấp doanh nghiệp sẽ quyết định ngành kinh doanh của doanh nghiệp, sứ mệnh, mục đích và các mối quan hệ giữa các cổ đông.
Mintzberg (1983) với cái nhìn sâu sắc hơn cho rằng trách nhiệm xã hội đã trở thành phần không thể thiếu trong chiến lược doanh nghiệp. Nói một cách khái quát, chiến lược CSR là việc liên kết CSR với chiến lược doanh nghiệp để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Pearce và Doh (2005) cho rằng khái niệm trách nhiệm xã hội khá phổ biến trong cộng đồng kinh doanh và thường được liên kết với các hoạt động quản trị, được thúc đẩy bởi các giá trị cá nhân và lợi thế cạnh tranh. Khái quát hơn, theo quan điểm của Porter và Kramers thì doanh nghiệp và xã hội phụ thuộc lẫn nhau.
Doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh và các 16 hoạt động của doanh nghiệp cũng sẽ tạo ra các tác động tích cực hoặc tiêu cực đến môi trường xã hội. Do đó, doanh nghiệp nên quan tâm đến kỳ vọng xã hội và các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của các hoạt động doanh nghiệp. Các ảnh hưởng này không chỉ giới hạn trong phạm vi kinh doanh mà còn mở rộng đến xã hội và các bên hữu quan. Từ đó doanh nghiệp sẽ có những lựa chọn chiến lược khác nhau để hài hòa lợi ích doanh nghiệp và xã hội.
Trách nhiệm xã hội là thành tố chính trong hoạch định chiến lược (theo cách tiếp cận mô hình chiến lược của Trường Kinh doanh Harvard) (Husted và Allen, 2001). Husted và Allen (2001) định nghĩa chiến lược CSR là “định vị của doanh nghiệp có quan tâm đến các chủ đề xã hội để đạt mục tiêu xã hội dài hạn và tạo lợi thế cạnh tranh”. Từ đó, các tác giả này đề xuất mô hình chiến lược xã hội bao gồm bốn thành tố “cấu trúc ngành, nguồn lực nội bộ doanh nghiệp, văn hóa và giá trị doanh nghiệp và mối quan hệ các bên hữu quan”. Như vậy, mục đích của chiến lược CSR là nhằm giúp doanh nghiệp không chỉ tối đa hóa kết quả xã hội mà còn kết quả tài chính.
Việc đầu tư xã hội mang tính chiến lược có thể đem lại kết quả tốt hơn cho doanh nghiệp như nâng cao uy tín và hình ảnh doanh nghiệp, sự gắn bó của nhân viên. Đây sẽ là khái niệm được sử dụng trong luận án này. Với lập luận rằng CSR theo quan điểm chiến lược nên tạo ra những lợi ích đặc thù của công ty mà không phải là hàng hóa tập thể, Burke và Logsdon (1996) thu hẹp phạm vi của các hoạt động CSR và bỏ qua các tình thế win – win đối với doanh nghiệp và xã hội. Chẳng hạn, những lợi ích không đặc thù cho công ty như các khoản tài trợ cho cộng đồng (hỗ trợ các dự án văn hóa.
Tuy nhiên, những khoản tài trợ này có thể góp phần đáng kể trong việc nâng cao danh tiếng của công ty, điều này sẽ tác động tới khách hàng hay là lòng trung thành của nhân viên. Bằng cách đó, những hoạt động như vậy có thể sản xuất ra hàng hóa công cộng đồng thời đem lại lợi ích kinh doanh quan trọng mà cuối 17 cùng sẽ dẫn tới tình thế đoi bên cùng thắng (win – win).