Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, gia đình luôn được xác định là tế bào của xã hội, là nền tảng hình thành và nuôi dưỡng nhân cách con người. Cùng với quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng đóng vai trò then chốt trong việc duy trì sự ổn định và phát triển bền vững của đời sống hôn nhân. Ngày 19/6/2014, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (gồm 9 chương, 133 Điều, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015), thay thế cho Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Đạo luật này ghi nhận nhiều bước tiến lập pháp quan trọng nhằm hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng, tôn trọng quyền tự định đoạt và thiết lập cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên cũng như người thứ ba.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cho thấy vẫn còn tồn tại nhiều điểm bất cập và vướng mắc kỹ thuật pháp lý. Nhiều nội dung luật định chỉ mang tính chất khung nguyên tắc chung mà chưa đủ cụ thể. Điển hình là việc thiếu tiêu chí xác định mức độ vô hiệu khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, sự bất cập trong quy định về hình thức của văn bản thỏa thuận, cũng như khó khăn khi phân định tài sản chung và tài sản riêng trong các vụ việc tranh chấp phức tạp. Trước yêu cầu cấp thiết từ lý luận và thực tiễn xét xử, tác giả Nguyễn Phước Ngọc Quế đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Các trường hợp chia tài sản chung giữa vợ và chồng trong pháp luật Việt Nam" dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Thị Mừng tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024).
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận các vấn đề cơ bản (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa pháp lý - xã hội, các yếu tố ảnh hưởng); phân tích sâu các quy định pháp luật thực định về quyền yêu cầu, nguyên tắc và hậu quả pháp lý của từng trường hợp chia tài sản chung giữa vợ và chồng; đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụng để đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành. Để hiện thực hóa mục đích trên, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát các vấn đề lý luận chung về chia tài sản giữa vợ và chồng trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Phân tích quy định pháp luật của từng trường hợp chia tài sản giữa vợ và chồng trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Đưa ra các điểm vướng mắc, bất cập của các quy định pháp luật về chia tài sản giữa vợ và chồng trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thông qua một số vụ việc cụ thể.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác giải quyết vụ việc chia tài sản chung giữa vợ và chồng.
Đối tượng nghiên cứu của công trình là các vấn đề lý luận cơ bản và hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh việc phân chia tài sản chung giữa vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan của Việt Nam. Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung làm rõ 3 trường hợp chia tài sản cụ thể được luật định: chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, chia tài sản chung khi ly hôn, và chia tài sản chung khi một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các chuẩn mực pháp lý và quan điểm khoa học luật học về quyền sở hữu và chế độ tài sản vợ chồng. Về mặt khái niệm, tác giả căn cứ vào Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định tài sản (vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản) và Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để làm rõ chế độ sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Đề tài kế thừa và phân tích định nghĩa về chia tài sản chung từ Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học (Trường Đại học Luật Hà Nội, 1999) và công trình của học giả Nguyễn Thị Lan (2012), qua đó chỉ rõ bản chất của việc phân chia tài sản là làm chấm dứt quyền sở hữu chung hợp nhất đối với toàn bộ hoặc một phần khối tài sản để xác lập quyền sở hữu riêng cho mỗi bên. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng làm cơ sở đối chiếu trung tâm bao gồm: Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình, cùng Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp.
Về mặt phương pháp luận, tác giả vận dụng phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng xuyên suốt để giải mã cấu trúc quy phạm, làm rõ bản chất lý luận, tổng hợp các quan điểm học thuật trong giáo trình và các công trình nghiên cứu đi trước.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Được áp dụng khi đối chiếu các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, năm 2000 và Bộ luật Dân sự, nhằm làm nổi bật tính kế thừa, những điểm tiến bộ mới cũng như khoảng trống lập pháp.
- Phương pháp đánh giá: Sử dụng để phân tích tính hợp lý, hợp pháp của văn bản quy phạm dưới góc độ điều kiện kinh tế, văn hóa gia đình truyền thống và thực tiễn xét xử tại Tòa án.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm tài liệu lập pháp, các giáo trình chính quy (Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội năm 2022), sách bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 (Nguyễn Minh Tuấn, 2016; Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ, 2017), luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ chuyên sâu (của Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Lan, Chu Minh Khôi, Nguyễn Thị Hồng Vân, Hoàng Thị Trang, Phạm Minh Hằng, Trần Thị Thu Thủy, Vương Thị Minh Hòa), và số liệu xét xử chính thức từ Báo cáo số 167/BC-TA tháng 12/2023 của Tòa án nhân dân tối cao.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung giữa vợ và chồng
Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận toàn diện về chế định phân chia tài sản chung của vợ chồng. Tác giả chỉ ra rằng tài sản chung giữa vợ và chồng mang bản chất là sở hữu chung hợp nhất, quyền định đoạt đòi hỏi sự thỏa thuận của cả hai bên. Do đó, việc chia tài sản chung là giải pháp pháp lý tất yếu nhằm chuyển dịch một phần hoặc toàn bộ tài sản từ sở hữu chung hợp nhất sang sở hữu riêng của từng người.
Tác giả khái quát 4 đặc điểm pháp lý cơ bản của các trường hợp chia tài sản chung:
- Việc phân chia do Tòa án giải quyết mang tính chất bổ khuyết, chỉ được thực hiện theo yêu cầu khi các bên không thể tự thỏa thuận (hoặc khi một bên chết mà có tranh chấp phân chia di sản thừa kế).
- Việc phân chia tuyệt đối không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Nguyên tắc chia đôi luôn được coi là điểm xuất phát cơ bản trước khi cân nhắc các yếu tố khác (riêng trường hợp một bên chết thì áp dụng chia đôi tài sản chung theo tỷ lệ tuyệt đối).
- Tài sản riêng của mỗi bên được tôn trọng và bảo vệ tuyệt đối thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ khi các bên đã tự nguyện sáp nhập vào tài sản chung.
Về mặt ý nghĩa, quy định chia tài sản chung vừa mang ý nghĩa pháp lý (tạo cơ sở giải quyết tranh chấp cho Tòa án, bảo vệ quyền lợi thành viên gia đình và bảo vệ người thứ ba trong giao dịch dân sự), vừa mang ý nghĩa xã hội sâu sắc (giải phóng quyền tự chủ kinh tế, thúc đẩy đầu tư kinh doanh, giảm thiểu xung đột và bảo đảm sự ổn định cuộc sống hậu hôn nhân). Bên cạnh đó, chương này phân tích 2 nhóm yếu tố tác động đến quá trình thực thi:
- Yếu tố chủ quan: Tính đồng bộ, chặt chẽ của hệ thống pháp luật; năng lực và vai trò của các cơ quan áp dụng pháp luật (Tòa án nhân dân, các tổ chức hành nghề công chứng); ý thức tôn trọng pháp luật và sự thiện chí của các chủ thể.
- Yếu tố khách quan: Trình độ phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu tự chủ vốn kinh doanh; sự chi phối của văn hóa truyền thống, quan niệm "của chồng công vợ", cùng thói quen tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng lời nói trong nội bộ dòng họ mà không lập hợp đồng bằng văn bản.
Chương 2: Nội dung quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về các trường hợp chia tài sản chung giữa vợ và chồng
Chương 2 đi sâu phân tích cơ chế pháp lý điều chỉnh 3 trường hợp phân chia tài sản chung được quy định trong luật thực định:
1. Chia tài sản chung giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân:
- Quyền yêu cầu và hình thức (Điều 38): Vợ chồng có quyền tự do thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung. Điểm tiến bộ vượt bậc của Luật năm 2014 so với Luật năm 1986 và năm 2000 là đã bãi bỏ yêu cầu phải có "lý do chính đáng" mới được chia tài sản. Hình thức thỏa thuận bắt buộc phải lập thành văn bản; tuy nhiên, pháp luật hiện hành mới chỉ bắt buộc công chứng, chứng thực đối với bất động sản (nhà ở, quyền sử dụng đất).
- Nguyên tắc và hậu quả pháp lý (Điều 40 Luật HN&GĐ 2014, Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP): Việc chia tài sản không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân; quyền nhân thân, quyền đại diện giữa vợ chồng và nghĩa vụ liên đới đối với giao dịch thiết yếu phục vụ đời sống gia đình vẫn được bảo lưu (Điều 19, 24-27, 30). Về tài sản, phần tài sản được chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó sẽ trở thành tài sản riêng của mỗi người, nhưng không làm chấm dứt chế độ tài sản chung theo luật định đối với các tài sản tạo lập sau đó. Giao dịch xác lập hợp pháp với người thứ ba trước thời điểm chia vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý.
- Chấm dứt hiệu lực (Điều 41) và Vô hiệu (Điều 42): Việc khôi phục chế độ tài sản chung đòi hỏi phải có sự đồng thuận của cả hai bên bằng văn bản, không thể đơn phương khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ thỏa thuận chia tài sản hợp pháp. Điều 42 quy định thỏa thuận vô hiệu nếu xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi gia đình, con cái hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ thuế khi bị tuyên bố phá sản.
2. Chia tài sản chung giữa vợ và chồng khi ly hôn:
- Nguyên tắc phân chia (Điều 59): Pháp luật tôn trọng thỏa thuận chế độ tài sản trước hôn nhân (nếu không bị tuyên vô hiệu theo Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP). Nếu áp dụng chế độ theo luật định, tài sản chung về nguyên tắc được chia đôi nhưng phải tính đến 4 căn cứ: (a) Hoàn cảnh gia đình và của mỗi bên; (b) Công sức đóng góp (lao động nội trợ được tính như lao động có thu nhập); (c) Bảo vệ lợi ích chính đáng trong sản xuất, kinh doanh; (d) Lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng. Tài sản được ưu tiên chia bằng hiện vật, nếu không chia được mới trích chia theo giá trị chênh lệch.
- Các trường hợp cụ thể: Khi sống chung với gia đình theo Điều 61, nếu tài sản không xác định được phần thì Tòa án căn cứ công sức đóng góp để trích chia một phần; nếu xác định được phần thì trích chia riêng theo Điều 59. Đối với nhà đất, quyền sử dụng đất riêng của ai thuộc về người đó; nhà ở thuộc sở hữu riêng đưa vào sử dụng chung thì vẫn thuộc chủ sở hữu nhưng người kia được giải quyết quyền lưu cư 06 tháng nếu gặp khó khăn về chỗ ở (Điều 63). Đối với tài sản tham gia kinh doanh, bên trực tiếp sản xuất kinh doanh được quyền nhận hiện vật và thanh toán giá trị chênh lệch cho bên kia theo Điều 64 nhằm tránh phá vỡ hoạt động sản xuất.
3. Chia tài sản chung khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết:
- Cơ chế phân chia (Điều 66): Nếu có yêu cầu chia di sản, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi bình quân (mỗi bên hưởng 1/2 giá trị) mà hoàn toàn không phụ thuộc vào công sức đóng góp của từng người. Phần tài sản của người chết được xử lý theo di chúc hoặc pháp luật thừa kế.
- Giải quyết khi người bị tuyên bố chết trở về (Điều 67 Luật HN&GĐ 2014, Điều 73 BLDS 2015): Quan hệ tài sản phụ thuộc vào việc bên còn sống đã kết hôn với người khác hay chưa. Nếu quan hệ hôn nhân được khôi phục, tài sản chung khôi phục kể từ ngày quyết định hủy bỏ có hiệu lực; tài sản tạo lập trong thời gian tuyên bố chết là tài sản riêng. Người trở về có quyền đòi lại di sản từ người thừa kế.
| Tiêu chí so sánh |
Chia trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38 - 42) |
Chia khi ly hôn (Điều 59 - 64) |
Chia khi một bên chết/bị tuyên bố chết (Điều 66 - 67) |
| Căn cứ phát sinh |
Thỏa thuận của vợ chồng hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết |
Tòa án công nhận thuận tình ly hôn hoặc xử cho ly hôn |
Sự kiện chết tự nhiên hoặc quyết định Tòa án tuyên bố chết |
| Quan hệ nhân thân |
Hôn nhân vẫn tồn tại; duy trì nghĩa vụ chăm sóc, đại diện |
Quan hệ hôn nhân hoàn toàn chấm dứt |
Quan hệ hôn nhân chấm dứt theo sự kiện pháp lý |
| Chế độ tài sản sau khi chia |
Chế độ tài sản luật định vẫn tiếp tục duy trì cho tương lai |
Chế độ tài sản chung chấm dứt hoàn toàn |
Chế độ tài sản chung chấm dứt, chuyển hóa sang quan hệ thừa kế |
| Nguyên tắc chia |
Chia đôi, xem xét công sức, lỗi, hoàn cảnh gia đình |
Chia đôi, xem xét 4 yếu tố (công sức, hoàn cảnh, kinh doanh, lỗi) |
Chia đôi bình quân 1/2 tuyệt đối, không xét công sức đóng góp |
| Quy định bảo vệ đặc thù |
Vô hiệu nếu tẩu tán tài sản trốn nợ, thuế, cấp dưỡng |
Quyền lưu cư 06 tháng; ưu tiên nhận tài sản kinh doanh |
Quyền đòi lại tài sản thừa kế khi người bị tuyên bố chết trở về |
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật chia tài sản chung giữa vợ và chồng trong các trường hợp và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
Tác giả đánh giá rằng hệ thống quy phạm của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã đáp ứng tốt hơn yêu cầu điều chỉnh các quan hệ dân sự, kinh tế đang biến động nhanh chóng. Số liệu chính thức từ ngành Tòa án phản ánh khối lượng giải quyết tranh chấp tài sản gia đình chiếm quy mô rất lớn trong công tác xét xử toàn quốc.
| Chỉ tiêu công tác xét xử (Năm 2023) |
Số lượng thụ lý (Vụ việc) |
Số lượng đã giải quyết (Vụ việc) |
Tỷ lệ giải quyết (%) |
| Tổng số vụ việc dân sự, HN&GĐ, KDTM, Lao động |
468.828 |
408.070 |
87,04% |
| - Xét xử sơ thẩm |
447.472 |
388.315 |
86,78% |
| - Xét xử phúc thẩm |
20.549 |
19.060 |
92,75% |
| - Xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm |
807 |
695 |
86,12% |
| Riêng các vụ việc Hôn nhân và Gia đình |
262.906 |
231.357 |
87,99% |
| Số vụ liên quan đến chia tài sản chung vợ chồng |
136.725 |
(Chiếm 52,01% tổng số án HN&GĐ thụ lý) |
— |
Mặc dù đạt được những kết quả đáng ghi nhận, thực tiễn xét xử bộc lộ nhiều điểm nghẽn và vướng mắc nghiêm trọng:
- Khó khăn trong việc định lượng và xác định chứng cứ chứng minh tài sản chung, tài sản riêng khi tài sản riêng được đưa vào khai thác chung qua nhiều thời kỳ, hoặc cha mẹ hai bên tặng cho quyền sử dụng đất bằng lời nói.
- Quy định vô hiệu tại Điều 42 sử dụng thuật ngữ "ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình" nhưng chưa có nghị quyết hay thông tư hướng dẫn tiêu chí định lượng cụ thể, khiến các Thẩm phán lúng túng khi nhận diện ranh giới hợp pháp và vô hiệu.
- Quy định về hình thức văn bản thỏa thuận trong thời kỳ hôn nhân còn thiếu đồng bộ: việc chỉ bắt buộc công chứng đối với nhà đất đã tạo kẽ hở cho các bên tẩu tán các động sản có giá trị lớn (xe cơ giới, vốn góp kinh doanh, cổ phần chứng khoán) nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho người thứ ba.
- Bất cập trong việc bảo vệ quyền lợi người phụ nữ khi sống chung với gia đình chồng theo Điều 61, do công việc nội trợ, chăm sóc con nhỏ không trực tiếp tạo ra thu nhập có chứng từ, dẫn đến việc không thể chứng minh phần công sức đóng góp khi rời khỏi nhà chồng.
Trên cơ sở nhận diện vướng mắc, khóa luận đưa ra hai nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện pháp luật thực định: Cần ban hành văn bản hướng dẫn giải thích cụ thể tiêu chí "ảnh hưởng nghiêm trọng" tại Điều 42; mở rộng danh mục tài sản bắt buộc công chứng, chứng thực văn bản thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân (bổ sung tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng và vốn góp doanh nghiệp); hoàn thiện nguyên tắc định lượng cụ thể giá trị kinh tế của lao động nội trợ khi giải quyết tài sản sống chung với gia đình.
- Nâng cao hiệu quả áp dụng: Nâng cao trình độ nghiệp vụ xét xử của Thẩm phán; thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin liên thông giữa cơ quan Tòa án, Văn phòng đăng ký đất đai và các Văn phòng công chứng; đồng thời tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của công dân.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã trích xuất và hệ thống hóa các chỉ số thống kê thực tiễn từ Báo cáo số 167/BC-TA ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân tối cao. Báo cáo cho thấy trong năm 2023, ngành Tòa án đã thụ lý 468.828 vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động (giải quyết 408.070 vụ, đạt tỷ lệ 87,04%). Trong đó, số vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý lên tới 262.906 vụ (chiếm hơn 56% tổng số án dân sự chung), và có đến 136.725 vụ việc liên quan trực tiếp đến việc phân chia tài sản chung của vợ chồng. Dữ liệu này chứng minh tính chất gay gắt, phổ biến của tranh chấp tài sản trong thực tiễn tư pháp.
Về mặt đóng góp khoa học, đề tài đã khắc phục tính đơn lẻ của các nghiên cứu tiền nhiệm. Nếu như các luận văn trước đây thường chỉ tiếp cận chuyên sâu một tình huống riêng lẻ — như công trình của Nguyễn Thị Hồng Vân (2016) và Vương Thị Minh Hòa (2021) chỉ nghiên cứu thời kỳ hôn nhân, Trần Thị Thu Thủy (2021) chỉ phân tích khi ly hôn, hay Hoàng Thị Trang (2017) chỉ tập trung trường hợp sống chung với gia đình — thì khóa luận này đã xâu chuỗi, so sánh đối chiếu đồng thời cả 3 trường hợp chia tài sản dưới góc độ lý luận và thực định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Qua đó, tác giả chỉ ra sự khác biệt bản chất về cơ chế phân chia (như tính bình quân tuyệt đối 1/2 khi một bên chết đối lập với cơ chế xem xét công sức, lỗi và hoàn cảnh khi ly hôn), đồng thời đề xuất sửa đổi bổ sung các quy định cụ thể về hình thức thỏa thuận và căn cứ xác định giao dịch vô hiệu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của khóa luận nằm ở phạm vi khảo sát thực tiễn: đề tài chủ yếu phân tích dựa trên báo cáo số liệu tổng hợp chung của Tòa án nhân dân tối cao năm 2023 và các vụ việc điển hình mang tính chất án điểm, chưa tiến hành khảo cứu xã hội học pháp luật thông qua phiếu điều tra diện rộng tại nhiều địa phương hoặc các văn phòng công chứng. Bên cạnh đó, nghiên cứu giới hạn trong khuôn khổ quy định pháp luật thực định Việt Nam mà chưa đi sâu nghiên cứu so sánh kinh nghiệm lập pháp quốc tế về chế độ tài sản ước định (theo hợp đồng).
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát giai đoạn thi hành án dân sự đối với các bản án, quyết định phân chia tài sản chung của Tòa án. Đồng thời, các nghiên cứu tương lai cần hướng tới việc điều chỉnh chế độ tài sản thỏa thuận của vợ chồng trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế số, khi tài sản chung của vợ chồng xuất hiện dưới các dạng thức mới phức tạp như tài sản số, tiền mã hóa, tài khoản sở hữu trí tuệ và cổ phần doanh nghiệp đa quốc gia.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn dành cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, cũng như những người làm công tác nghiên cứu đề tài tương tự.
Phần nội dung tại Chương 2 phân tích chi tiết các điều luật chuyên biệt (Điều 38, Điều 41, Điều 42, Điều 61, Điều 64, Điều 66, Điều 67) và Chương 3 tổng hợp các bất cập thực tế là tài liệu tra cứu hữu ích cho các thẩm phán, thư ký tòa án, luật sư, công chứng viên và chấp hành viên trong quá trình giải quyết các vụ việc phân chia tài sản và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự.
Câu hỏi thường gặp
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có làm chấm dứt quan hệ hôn nhân và chế độ tài sản chung theo luật định không?
Không. Căn cứ khoản 1 Điều 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP và các Điều 17-27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân cũng như không chấm dứt chế độ tài sản chung theo luật định. Vợ chồng vẫn có quyền đại diện, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau và trách nhiệm đóng góp tài sản riêng để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Các tài sản tạo lập sau thời điểm chia tài sản chung vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng (trừ trường hợp có thỏa thuận khác).
Nguyên tắc phân chia tài sản khi một bên chết có điểm gì khác biệt so với khi ly hôn?
Khi ly hôn, nguyên tắc chia đôi tài sản chung bắt buộc phải xem xét, cân đối dựa trên 4 yếu tố: hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp, bảo vệ sản xuất kinh doanh và lỗi của mỗi bên (Điều 59). Ngược lại, theo Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khi một bên chết hoặc bị tuyên bố đã chết, tài sản chung được chia đôi theo tỷ lệ bình quân tuyệt đối (mỗi bên hưởng chính xác 1/2 giá trị) mà hoàn toàn không phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi bên trong việc tạo lập khối tài sản chung.
Khi vợ chồng ly hôn mà sống chung với gia đình, tài sản được giải quyết như thế nào theo Điều 61?
Khoản 1 và Khoản 2 Điều 61 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 phân hóa thành hai trường hợp: nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình xác định được theo phần thì trích ra để chia theo nguyên tắc tại Điều 59; nếu không xác định được phần thì vợ hoặc chồng được chia một phần giá trị căn cứ vào công sức đóng góp thực tế vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản cũng như đời sống chung của gia đình. Việc phân chia ưu tiên sự thỏa thuận với gia đình, nếu không thỏa thuận được mới yêu cầu Tòa án phán quyết.
Những trường hợp nào khiến thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu theo luật định?
Căn cứ Điều 42 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thỏa thuận bị vô hiệu nếu: (1) Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền lợi hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; (2) Nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị tuyên bố phá sản; nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước.
Tỷ lệ các vụ việc chia tài sản chung giữa vợ và chồng trong tổng số các vụ việc hôn nhân và gia đình năm 2023 là bao nhiêu?
Theo số liệu từ Báo cáo số 167/BC-TA tháng 12/2023 của Tòa án nhân dân tối cao, trong năm 2023 ngành Tòa án đã thụ lý 262.906 vụ việc hôn nhân và gia đình. Trong số đó, có tới 136.725 vụ việc liên quan trực tiếp đến tranh chấp phân chia tài sản chung giữa vợ và chồng, chiếm tỷ trọng 52,01% tổng số vụ việc hôn nhân và gia đình được thụ lý trên toàn quốc.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Phước Ngọc Quế đã cung cấp một công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về chế định chia tài sản chung giữa vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Bằng việc kết hợp phương pháp luận pháp lý chặt chẽ với các số liệu thực chứng từ công tác xét xử của ngành Tòa án năm 2023, tác giả đã làm rõ bản chất lý luận, đặc điểm và hệ quả pháp lý của ba trường hợp phân chia tài sản thực định. Những vướng mắc được chỉ ra cùng hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định về điều kiện vô hiệu, hình thức văn bản và xác định công sức đóng góp mang lại giá trị tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn xác thực cho công tác lập pháp và tư pháp tại Việt Nam.