CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.1 Khái niệm, đặc điểm về chia tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh 1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng Khái niệm tài sản Ngày nay, trong mọi lĩnh vực của đời sống, trong các hoạt động kinh tế - xã hội, tài sản nói chung và các điều kiện vật chất, tiền bạc nói riêng đóng một vai trò cần thiết, đặc biết quan trọng. Tài sản là đối tượng của các giao dịch dân sự diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội, từ những giao dịch phổ biến nhằm đáp ứng những nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống như ăn, mặc, đi lại đến những giao dịch có giá trị lớn liên quan đến nhà ở, đất đai. Ở Việt Nam, khái niệm về tài sản được hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất, theo từ điển bách khoa toàn thư mở, tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng, đây là cách hiểu thông thường.
Nghĩa thứ hai trong lĩnh vực pháp lý, theo Điều 105 BLDS 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; Tài sản bao gồm bất động sản và động sản, bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Có thể thấy rằng, theo quy định của BLDS thì tài sản được phân thành 4 nhóm chính, đó là: Vật: vật được hiểu là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan, con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình. Tuy nhiên, với lĩnh vực pháp lý, vật chỉ có ý nghĩa khi nó là đối tượng trong quan hệ pháp luật. Con người phải chiếm hữu, chi phối, kiểm soát được vật để đáp ứng lợi ích (nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần) của con người.
Tiền: Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tiền là một loại hàng hóa đặc biệt, là vật ngang giá chung thống nhất, được sử dụng làm thước đo giá trị cho các loại tài sản. Tiền đem lại các công dụng hữu ích trong cuộc sống như trao đổi, kinh doanh, tiêu dùng, dự trữ, bình ổn giá… Ở Việt Nam, tiền do Nhà 8 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam độc quyền phát hành mang đơn vị tiền tệ là Việt Nam Đồng (VNĐ). Giấy tờ có giá: Ngày nay, giấy tờ có giá thuộc loại tài sản giao dịch phổ biến trong giao dịch dân sự, đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng. Theo Điều 6, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, thì giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời gian nhấ định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác.
Giấy tờ có giá là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao dịch dân sự. Có thể kể tên một số loại giấy tờ có giá như: Séc, tín phiếu, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, cổ phiếu… Quyền tài sản: Quyền tài sản là quyền gắn liền với tài sản, quyền của cá nhân, pháp nhân được pháp luật cho phép thực hiện quyền đối với tài sản của mình, khi thực hiện quyền này, lợi ích vật chất sẽ phát sinh đối với chủ sở hữu. Theo Điều 115 BLDS năm 2015 thì quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Khái niệm tài sản chung vợ chồng Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng phát sinh, tồn tại cùng với sự phát sinh và tồn tại của quan hệ hôn nhân.
Tài sản của vợ chồng là một phạm trù pháp lý gắn với quyền sở hữu của vợ chồng. Xuất phát từ tính chất của quan hệ hôn nhân là cùng chung ý chí, chung công sức trong việc xây dựng gia đình, đảm bảo cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội của nó như: chăm sóc, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, phát triển kinh tế. nên pháp luật quy định giữa vợ chồng phát sinh tài sản thuộc sở hữu chung. Có thể thấy rằng, sự hình thành và phát triển của khối tài sản chung gắn liền với hôn nhân: nếu không có hôn nhân thì không có tài sản chung; hôn nhân càng dài thì khối tài sản chung càng có điều kiện tốt về thời gian để phát triển lớn mạnh.
Trong chừng mực nào đó, người ta nói rằng khối tài sản chung của vợ chồng được sinh ra 9 từ hôn nhân, bởi vì tất cả các tài sản mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn đều là tài sản riêng. Chính từ ngày kết hôn mà khối tài sản chung bắt đầu được tích tụ từ con số không. Có thể xếp các tài sản này thành bốn nhóm: Tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân; tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi lợi tức từ tài sản riêng; tài sản mà vợ chồng thừa kế chung hoặc được tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng thỏa thuận được gọi là tài sản chung vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng là vật và lợi ích vật chất khác thuộc sở hữu chung của cả vợ và chồng.
Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu chung của gia đình và thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng [35, tr. Tài sản chung vợ chồng là các loại tài sản được nhận diện trên cơ sở Điều 105 BLDS năm 2015 bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 40 của Luật HN&GĐ; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng [25, Điều 33].
Như vậy, tài sản chung của vợ chồng là khối tài sản thuộc quyền sở hữu của họ do tạo lập trong thời kỳ hôn nhân mà được pháp luật công nhận. Mặt khác sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất tức là phần quyền sở hữu của vợ, chồng không được xác định đối với khối tài sản chung và vợ, chồng có quyền ngang nhau đối với tài sản chung.2 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh Khái niệm về kinh doanh Kinh doanh là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế - xã hội. Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất của loài người. Theo từ điển bách khoa toàn thư mở, hoạt động kinh doanh thường được thông qua các thể chế kinh doanh 10 như tập đoàn, công ty nhưng cũng có thể là hoạt động tự thân của các cá nhân như sản xuất-buôn bán nhỏ kiểu hộ gia đình.
Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ.) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất [34]. Dưới góc độ pháp luật Doanh nghiệp, Khoản 16, Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2014 nêu rằng: “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất nên trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản này đòi hỏi phải có sự ưng thuận của hai vợ chồng [14]. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có thể thoả thuận sử dụng khối tài sản chung này cho nhiều mục đích khác nhau, trong đó có trường hợp vợ chồng thoả thuận đưa tài sản chung vào kinh doanh với mục đích là sinh lời và phát sinh lợi nhuận thu được. Khái niệm tài sản chung vợ chồng trong hoạt động kinh doanh Sự phát triển sôi động của nền kinh tế Việt Nam hiện nay đã tác động rất lớn đến quyền sở hữu tài sản của vợ chồng.
Việc vợ chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh hoặc trực tiếp tham gia kinh doanh diễn ra khá phổ biến. Ví dụ, hộ gia đình (trong đó có vợ, chồng) thực hiện hoạt động kinh doanh với quy mô nhỏ như cửa hàng, sạp chợ, quán ăn [33, tr 93]. Hay vợ chồng có thể tham gia vào đầu tư, sản xuất kinh doanh trong rất nhiều lĩnh vực với nhiều loại hình doanh nghiệp như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình…. Khi đó, việc xác định tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như loại hình kinh doanh (hộ kinh doanh, doanh nghiệp có hoặc không có tư cách pháp nhân) [14].
Có thể phân loại tài sản thành hai loại là tài sản vô hình và tài sản hữu hình. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, chủ sở hữu cổ phần hay phần vốn góp trong công ty TNHH, công ty hợp danh được 11 hưởng lợi từ quyền nắm giữ cổ phần hay phần vốn góp đó, ví dụ như quyền biểu quyết, quyền hưởng cổ tức, quyền ưu tiên mua cổ phẩn. nên về bản chất chính là quyền tài sản (tài sản vô hình). Tài sản hữu hình, là loại tài sản hiện hữu có thể nhìn thấy được bao gồm: tiền mặt, trụ sở, nhà xưởng, công trình xây dựng, máy móc thiết bị, cửa hàng, hàng hoá, nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá… Như vậy, tài sản trong Công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh bao gồm tài sản vô hình và tài sản hữu hình.
Đối với doanh nghiệp tư nhân hoặc kinh doanh hộ cá thể là tài sản hữu hình.