CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CHI TIÊU CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Lý thuyết về chi tiêu công: 1. Khái niệm: Chi tiêu công là các khoản chi được thực hiện bởi nhà nước và các cơ quan của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công (Valentino Piana, 2001). Chi tiêu công là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan gắn liền với sự tồn tại của nhà nước.
Qua các thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội, quan điểm về chi tiêu công cũng đã được thay đổi nhất định. Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, theo các nhà kinh tế học cổ điển, chi tiêu công là chi tiêu của cơ quan pháp nhân công quyền (Lê Đình Chấn, 1974). Khái niệm chi tiêu công của các nhà kinh tế cổ điển hoàn toàn là dựa vào ý niệm pháp lý: nhà nước và các cơ quan nhà nước là các pháp nhân công quyền. Trong khi đó các nhà kinh tế hiện đại cho rằng, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, chi tiêu công là công cụ tài chính của nhà nước để trang trải và đảm bảo các hoạt động của bộ máy quản lý, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội và quốc phòng; can thiệp vào các hoạt động kinh tế nhằm ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, bảo vệ lợi ích chung cho các chủ thể trong xã hội.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện đại thì chi tiêu công được khái niệm hoàn toàn dựa vào ý niệm về kinh tế xã hội, đó là: quyền lực, ảnh hưởng của nhà nước và các cơ quan công quyền đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội (Sử Đình Thành, 2012). 5 Chi tiêu công có các vai trò quan trọng sau đây (Valentino piana, 2001): * Đóng góp đến tổng cầu thực tế của xã hội; * Tạo ra lực đẩy hợp tác giữa khu vực công và tư lên nền tảng kinh tế với mục đích tăng trưởng và ổn định kinh tế; * Cung cấp hàng hóa công cho xã hội và người dân; * Gia tăng ngoại tác tích cực đối với nền kinh tế - xã hội; Nguồn tài trợ chi tiêu công thông qua: * Nguồn thu từ thuế và lệ phí, và * Vay nợ trong nước và ngoài nước. Nội dung chi tiêu công: Chi tiêu công diễn ra trên phạm vi rộng, dưới nhiều hình thức. Trong quản lý tài chính, chi tiêu công được chia làm hai nội dung chi lớn: Chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển (Sử Đình Thành, 2012).
(i) Chi thường xuyên: Đây là khoản chi cho yếu tố con người, chi cho việc quản lý và các hoạt động thường xuyên của khu vực công. Các khoản chi thường xuyên thường được tập hợp theo từng lĩnh vực và nội dung chi, bao gồm các nhóm chi cơ bản sau: * Chi sự nghiệp văn hóa - xã hội: gồm có chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo; chi sự nghiệp y tế; chi sự nghiệp văn hóa – thông tin; chi sự nghiệp thể dục thể thao; chi sự nghiệp phát thanh, truyền hình; chi sự nghiệp khoa học, công nghệ và môi trường; chi sự nghiệp xã hội và các khoản chi sự nghiệp văn hóa xã hội khác. * Chi sự nghiệp kinh tế của nhà nước: đây là các khoản chi cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, quản lý kinh tế - xã hội và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế hoạt động và phát triển một cách thuận lợi. Mục đích hoạt động của 6 đơn vị sự nghiệp kinh tế không phải là kinh doanh lấy lãi, do vậy ngân sách nhà nước cần dành một khoản chi đáp ứng cho hoạt động của các đơn vị này.
Chi sự nghiệp kinh tế bao gồm: · Chi sự nghiệp nông nghiệp, sự nghiệp thủy lợi, sự nghiệp ngư nghiệp, sự nghiệp lâm nghiệp, sự nghiệp giao thông, sự nghiệp kiến thiết thị chính và sự nghiệp kinh tế công cộng khác. · Chi điều tra cơ bản, đo đạc địa giới hành chính các cấp. · Chi về bản đồ, đo đạc cắm mốc biên giới, đo đạc lập bản đồ và lưu trữ hồ sơ địa chính. · Chi định canh, định cư và kinh tế mới.
* Chi quản lý hành chính nhà nước: là các khoản chi cho hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước thuộc bộ máy chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương. * Chi quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội: gồm các khoản chi cho các hoạt động của hệ thống chính trị nhằm bảo vệ an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội. * Chi khác: gồm các khoản chi theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của chi thường xuyên: · Nguồn lực tài chính trang trải cho các khoản chi thường xuyên thường được phân bổ tương đối đều giữa các tháng trong quý, giữa các quý trong năm và giữa các năm trong kỳ kế hoạch.
· Việc sử dụng kinh phí thường xuyên được thực hiện thông qua hai hình thức cấp phát thanh toán và cấp tạm ứng. Cũng như các khoản chi khác của ngân sách nhà nước, việc sử dụng kinh phí thường xuyên phải đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả. · Chi thường xuyên chủ yếu chi cho yếu tố con người, sự việc nên nó không làm tăng thêm tài sản hữu hình của quốc gia. 7 · Hiệu quả của chi thường xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể như chi cho đầu tư phát triển.
Hiệu quả của nó không đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị – xã hội, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Với đặc điểm trên cho thấy chi thường xuyên có ảnh hưởng rất quan trọng đến đời sống kinh tế - xã hội của một quốc gia. Vai trò của chi thường xuyên: Chi thường xuyên có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước. Thông qua chi thường xuyên đã giúp cho bộ máy nhà nước duy trì hoạt động bình thường để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước; đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Thực hiện tốt nhiệm vụ chi thường xuyên còn có ý nghĩa rất lớn trong việc phân phối và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của đất nước, tạo điều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng. Chi thường xuyên hiệu quả và tiết kiệm sẽ tăng tích lũy vốn ngân sách nhà nước để chi cho đầu tư phát triển, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, nâng cao niềm tin của người dân vào vai trò quản lý điều hành của nhà nước. Trong giai đoạn hiện nay, ngân sách nhà nước đóng vai trò rất quan trọng, bảo đảm cho nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ duy trì quyền lực nhà nước – là công cụ điếu tiết vĩ mô nền kinh tế, cung cấp kinh phí để đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư các ngành then chốt, tạo môi trường cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển, đầu tư chống ô nhiễm môi trường, tài trợ cho các hoạt động xã hội, chống lạm phát… Do vậy, việc quản lý và sử dụng chi thường xuyên đúng đối tượng, đúng mục đích sẽ đem đến hiệu quả thiết thực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 8 (ii) Chi đầu tư phát triển: Trong cơ chế thị trường, với chức năng quản lý kinh tế, nhà nước sử dụng công cụ ngân sách nhà nước để phân phối các nguồn lực tài chính cho sự phát triển của lĩnh vực sản xuất kinh doanh và ngành kinh tế quốc dân.
Chi đầu tư phát triển được thực hiện chủ yếu từ ngân sách trung ương và một bộ phận ngân sách địa phương. Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư có liên quan đến sự tăng trưởng quy mô vốn đầu tư của nhà nước và quy mô vốn trên toàn xã hội. Mục tiêu của đầu tư phát triển là đầu tư vào khu vực sản xuất, đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, làm thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội của đất nước. Kết quả của các khoản chi đầu tư phát triển là tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế, làm tăng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo ra cơ sở vật chất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Sử Đình Thành, 2012).
Xét theo mục đích chi đầu tư phát triển bao gồm: * Chi xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: Đây là khoản chi lớn của nhà nước nhằm phát triển kết cấu hạ tầng, đảm bảo các điều kiện cần thiết cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là khoản chi đầu tư xây dựng các công trình giao thông, bưu chính viễn thông, điện lực, năng lượng, các ngành công nghiệp cơ bản, các công trình trọng điểm phát triển văn hóa xã hội… * Đầu tư, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước: Thông qua các khoản chi này nhà nước can thiệp vào nền kinh tế bằng việc nắm những ngành quan trọng, chủ yếu và có quy mô lớn để dẫn dắt nền kinh tế theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước. Nhà nước đầu tư vào những ngành quan trọng có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế, an ninh quốc phòng và các doanh nghiệp có tính chất công ích. 9 * Chi hỗ trợ các quỹ hỗ trợ phát triển: Đây là các khoản chi của ngân sách nhà nước góp phần tạo lập quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện việc hỗ trợ vốn cho các dự án đầu tư phát triển thuộc các ngành nghề ưu đãi và các vùng khó khăn theo quy định của chính phủ, nhằm phát triển sản xuất, đảm bảo cân đối giữa các ngành, các vùng trong cả nước.
Khoản chi này hình thành vốn điều lệ của quỹ và có thể chi để bổ sung vốn hàng năm khi cần thiết. Thông qua hoạt động của quỹ hỗ trợ phát triển góp phần từng bước chuyển dần hình thức cấp phát của ngân sách nhà nước cho đầu tư sang hình thức tín dụng đầu tư ưu đãi, nhằm nâng cao trách nhiệm của người sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn.