Tổng quan nghiên cứu

Dịch HIV/AIDS tại Việt Nam đang có sự chuyển dịch rõ rệt về hình thái lây truyền từ đường máu sang đường tình dục không an toàn, trong đó nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) trở thành quần thể chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Các số liệu giám sát trọng điểm cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM đã gia tăng nhanh chóng từ 3,7% năm 2013 lên 5,1% năm 2015, tiếp tục chạm mốc 8,2% năm 2016 và tăng đột biến lên 13,3% vào năm 2020. Tại Hà Nội, nơi có quy mô quần thể MSM ước tính khoảng 31.080 người (đứng thứ hai toàn quốc), tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm này ghi nhận ở mức 11,2%, đi kèm với tỷ lệ mắc các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STIs) lên tới 43,8%.

Trước bối cảnh dịch tễ phức tạp, can thiệp điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng thuốc kháng virus (PrEP) đã được chứng minh mang lại hiệu quả bảo vệ lên đến 86% - 99% khi tuân thủ điều trị. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1246/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030, đặt chỉ tiêu 30% nhóm MSM được tiếp cận PrEP vào năm 2025. Tuy nhiên, phần lớn kinh phí triển khai PrEP tại Hà Nội hiện phụ thuộc vào các nguồn viện trợ quốc tế như PEPFAR và Quỹ Toàn cầu, vốn sẽ cắt giảm mạnh và chưa có cam kết duy trì dài hạn.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết bài toán cấp bách về tính bền vững tài chính. Mục tiêu cụ thể là phân tích chi phí trung bình cho một khách hàng MSM điều trị PrEP tại Hà Nội năm 2021 và ước tính tổng ngân sách chương trình theo các kịch bản tài chính giai đoạn 2023-2025. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng kinh tế y tế quan trọng, giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng phương án phân bổ ngân sách nhà nước và thiết lập cơ chế bảo hiểm y tế chi trả kịp thời.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung phân tích chi phí y tế và đánh giá tác động ngân sách (Budget Impact Analysis) dựa trên Hướng dẫn ước tính chi phí PrEP của UNAIDS và mô hình đánh giá kinh tế của D. Allen Roberts. Cấu trúc chi phí được phân tích toàn diện dưới góc độ người cung cấp dịch vụ y tế (bao gồm cơ sở y tế, Nhà nước và tổ chức tài trợ), chia thành hai nhóm chính:

  • Chi phí biến đổi (Variable Costs): Phụ thuộc trực tiếp vào số lượng khách hàng và lượt khám, bao gồm chi phí nhân lực y tế trực tiếp tham gia tư vấn và điều trị; chi phí thuốc kháng virus ARV với phác đồ phối hợp Tenofovir disoproxil fumarate và Emtricitabine (TDF/FTC 300mg/200mg); chi phí xét nghiệm định kỳ (HIV, chức năng thận Creatinine, Viêm gan B, Viêm gan C, Giang mai và các bệnh STIs); chi phí vật tư tiêu hao; cùng chi phí hỗ trợ tìm kiếm và chuyển gửi duy trì khách hàng trong cộng đồng.
  • Chi phí cố định (Fixed Costs): Không thay đổi theo quy mô khách hàng trước mắt, bao gồm chi phí nhân sự quản lý gián tiếp; chi phí khấu hao tài sản cố định, trang thiết bị y tế và nhà xưởng; cùng các khoản chi phí vận hành thường quy như điện nước, viễn thông, văn phòng phẩm, truyền thông và hội họp chuyên môn.

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu đánh giá tác động ngân sách kết hợp phương pháp định lượng hồi cứu và phỏng vấn sâu định tính. Cỡ mẫu định lượng bao trùm toàn bộ 1.563 hồ sơ bệnh án của tất cả khách hàng MSM tham gia điều trị PrEP trong năm 2021 tại 02 cơ sở y tế trọng điểm: Phòng khám Glink Hà Nội (đại diện cho khối phòng khám tư nhân do cộng đồng quản lý với 1.235 lượt khách hàng) và Trung tâm Y tế quận Nam Từ Liêm (đại diện cho khối cơ sở y tế công lập với 328 lượt khách hàng). Tổng lượng khách hàng tại hai cơ sở này chiếm 28% tổng số người sử dụng PrEP toàn thành phố Hà Nội năm 2021.

Phương pháp tính toán kết hợp kỹ thuật vi chi phí (bottom-up micro-costing) cho các biến số thuốc, xét nghiệm, nhân lực và phương pháp chi phí gộp (top-down costing) cho các chi phí vận hành, khấu hao. Đặc biệt, nghiên cứu thực hiện kỹ thuật bấm giờ đo lường thao tác (time-motion study) trên 8 ca khám khởi liều và 8 ca tái khám tại 4 thời điểm khác nhau nhằm định mức chính xác thời gian cung cấp dịch vụ của từng chức danh y tế. Nghiên cứu định tính thực hiện phỏng vấn sâu 03 chuyên gia lãnh đạo từ Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hà Nội (CDC Hà Nội) và Vụ Bảo hiểm Y tế để xây dựng các kịch bản tài chính chuyển giao giai đoạn 2023-2025. Dữ liệu được xử lý và phân tích trên phần mềm Microsoft Excel.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu từ 1.563 hồ sơ bệnh án cho thấy thời gian điều trị PrEP trung bình của một khách hàng MSM tại Hà Nội năm 2021 là khoảng 5,5 tháng. Tỷ lệ khách hàng duy trì điều trị liên tục từ 3 tháng trở lên đạt mức rất cao, lên đến 86,5% tại Phòng khám Glink.

Về mặt kinh tế y tế, chi phí trung bình cho một khách hàng MSM điều trị PrEP tại Hà Nội được xác định là 355.000 đồng/người/tháng (tương đương 15,27 USD) và 1.970.000 đồng/người/năm (tương đương 84,76 USD). Cơ cấu chi phí dịch vụ cho thấy sự chiếm lĩnh của hai cấu phần cốt lõi:

  • Chi phí xét nghiệm chiếm tỷ trọng lớn nhất với 34,15% tổng chi phí.
  • Chi phí thuốc kháng virus TDF/FTC chiếm tỷ trọng 33,57% tổng chi phí.
  • Chi phí vận hành thường quy chiếm 12,35%.
  • Chi phí nhân sự trực tiếp, vật tư y tế tiêu hao và các chi phí quản lý, chuyển gửi chiếm 19,93% còn lại.

Dự báo tác động ngân sách giai đoạn 2021-2025 để đạt mục tiêu cung cấp dịch vụ cho 34.008 lượt khách hàng MSM tại Hà Nội đưa ra ba kịch bản tài chính rõ rệt:

  • Kịch bản duy trì nguồn viện trợ quốc tế: Tổng ngân sách cần huy động cho cả giai đoạn 2021-2025 là 71,4 tỷ đồng.
  • Kịch bản Ngân sách Nhà nước chi trả toàn bộ (giai đoạn 2023-2025): Khi không còn trợ giá thuốc và hỗ trợ kỹ thuật từ dự án nước ngoài, tổng kinh phí Nhà nước phải chi trả là 134,7 tỷ đồng do phải mua sắm thuốc và dịch vụ theo khung giá công bố trong nước.
  • Kịch bản Bảo hiểm Y tế đồng chi trả: Dựa trên tỷ lệ bao phủ thẻ BHYT toàn dân là 91% và mức thanh toán 80% theo quy định, quỹ BHYT dự kiến sẽ chi trả 10,6 tỷ đồng vào năm 2023 và tăng dần lên 12,3 tỷ đồng vào năm 2025.

Thảo luận kết quả

Mức chi phí điều trị PrEP 84,76 USD/người/năm tại Hà Nội thấp hơn đáng kể so với mức chi phí tại các quốc gia trong khu vực và trên thế giới như Thái Lan (223 - 311 USD/người/năm), Trung Quốc (khoảng 1.700 - 3.500 USD/người/năm) hay Hoa Kỳ (trên 9.000 USD/người/năm). Sự chênh lệch này xuất phát từ việc Việt Nam đang tiếp cận được nguồn thuốc ARV viện trợ giá rẻ từ Quỹ Toàn cầu và chi phí nhân công y tế trong nước ở mức tối ưu.

Tuy nhiên, đặc thù sử dụng PrEP mang tính thời điểm phụ thuộc vào hành vi nguy cơ cá nhân (trung bình 5,5 tháng điều trị) chứ không phải dùng suốt đời như thuốc điều trị ARV ở người nhiễm HIV. Khi so sánh giữa hai mô hình cung cấp, phòng khám tư nhân do cộng đồng MSM vận hành (Glink) đạt hiệu suất phục vụ cao hơn hẳn cơ sở y tế công lập (1.235 lượt so với 328 lượt), nhờ sự thấu hiểu rào cản tâm lý và giảm kỳ thị xã hội.

Về mặt trực quan hóa dữ liệu, cơ cấu chi phí điều trị PrEP rất phù hợp để biểu diễn bằng biểu đồ hình quạt (Pie chart), làm nổi bật lát cắt thuốc và xét nghiệm chiếm tới 67,72% tổng chi ngân sách. Đồng thời, việc so sánh gánh nặng tài chính giữa kịch bản ngân sách nhà nước tự chi trả toàn bộ (134,7 tỷ đồng) và kịch bản phân bổ qua cơ chế BHYT kết hợp đồng chi trả nên được minh họa qua biểu đồ cột chồng nhiều giai đoạn (Stacked Bar chart) để các cơ quan quản lý dễ dàng nhận thấy hiệu quả san sẻ rủi ro tài chính.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đảm bảo tính bền vững của chương trình điều trị PrEP khi các nguồn tài trợ quốc tế kết thúc, các giải pháp can thiệp đồng bộ cần được triển khai theo lộ trình:

  • Thực hiện đấu thầu tập trung cấp quốc gia đối với thuốc PrEP (TDF/FTC 300mg/200mg): Cục Quản lý Dược và Trung tâm Mua sắm tập trung thuốc Quốc gia cần chủ trì đàm phán giá và đấu thầu số lượng lớn ngay từ giai đoạn 2023-2024, đặt mục tiêu kéo giảm đơn giá thuốc thương mại về sát với mức giá viện trợ quốc tế, giúp tiết kiệm tối thiểu 25% - 30% chi phí thuốc dự phòng.
  • Thể chế hóa và đưa gói dịch vụ PrEP vào danh mục chi trả của Quỹ Bảo hiểm Y tế: Bộ Y tế phối hợp với Bảo hiểm Xã hội Việt Nam xây dựng quy chế thanh toán BHYT cho dịch vụ khám, xét nghiệm và thuốc PrEP với cơ chế đồng chi trả 80/20. Mục tiêu là đảm bảo cho 91% khách hàng MSM có thẻ BHYT được hưởng quyền lợi, triển khai thí điểm từ năm 2023 và mở rộng diện bao phủ toàn diện vào năm 2025.
  • Nhân rộng và cấp ngân sách duy trì cho mô hình phòng khám do cộng đồng thành lập (CBO): Sở Y tế và CDC Hà Nội cần thiết lập cơ chế đặt hàng dịch vụ y tế công đối với các phòng khám tư nhân thân thiện như Glink, duy trì chỉ tiêu tỷ lệ khách hàng tuân thủ điều trị trên 3 tháng đạt mức trên 85% tại tất cả các cơ sở can thiệp.
  • Tối ưu hóa quy trình kỹ thuật và hướng dẫn xét nghiệm cận lâm sàng: Cục Phòng, chống HIV/AIDS cần cập nhật phác đồ giám sát PrEP theo hướng dẫn mới của WHO, điều chỉnh tần suất xét nghiệm chức năng thận Creatinine ở nhóm khách hàng trẻ tuổi khỏe mạnh, hướng tới mục tiêu giảm 10% - 15% tổng chi phí xét nghiệm định kỳ mà vẫn đảm bảo an toàn lâm sàng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và các phát hiện thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm độc giả chuyên ngành:

  • Cơ quan hoạch định chính sách y tế và tài chính: Các chuyên viên tại Vụ Bảo hiểm Y tế, Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Y tế), Cục Phòng, chống HIV/AIDS và Bảo hiểm Xã hội Việt Nam sẽ tìm thấy cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác để xây dựng khung giá dịch vụ và ban hành chính sách chi trả PrEP qua BHYT giai đoạn 2023-2030.
  • Các chuyên gia kinh tế y tế và nghiên cứu viên HTA: Cung cấp khung phương pháp luận vi chi phí (bottom-up micro-costing) và đo lường thao tác (time-motion studies) chuẩn mực, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu đánh giá công nghệ y tế và tác động ngân sách trên các nhóm can thiệp y tế công cộng khác.
  • Tổ chức phi chính phủ và mạng lưới cộng đồng (CBO/MSM): Các tổ chức như PATH, UNAIDS, Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật cùng mạng lưới doanh nghiệp xã hội có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng dự toán ngân sách hoạt động, nâng cao hiệu quả các can thiệp giảm hại tại địa phương.
  • Cán bộ quản lý tại các cơ sở điều trị HIV/AIDS: Giúp ban giám đốc và kế toán trưởng các trung tâm y tế quận/huyện, bệnh viện chuyên khoa và phòng khám tư nhân tối ưu hóa quy trình tiếp đón, sắp xếp nhân sự kiêm nhiệm và quản lý định mức vật tư tiêu hao.

Câu hỏi thường gặp

Điều trị PrEP mang lại hiệu quả bảo vệ trước nguy cơ lây nhiễm HIV đạt mức bao nhiêu phần trăm? Các thử nghiệm lâm sàng quốc tế như IPERGAY, PROUD và nghiên cứu iPrEx khẳng định điều trị PrEP bằng phác đồ TDF/FTC đạt hiệu quả ngăn ngừa lây nhiễm HIV lên tới 86% - 90%. Khi người sử dụng tuân thủ uống thuốc đều đặn 7 ngày mỗi tuần, hiệu quả phòng ngừa lây nhiễm qua đường quan hệ tình dục hậu môn đạt tới 99%.

Chi phí trung bình để điều trị PrEP cho một khách hàng MSM tại Hà Nội là bao nhiêu trong một năm? Theo kết quả hồi cứu tại Hà Nội năm 2021, chi phí trung bình cho một khách hàng MSM là 1.970.000 đồng/người/năm (khoảng 84,76 USD), tương đương 355.000 đồng/người/tháng. Mức chi phí này được tính toán dựa trên thời gian điều trị thực tế bình quân của khách hàng là 5,5 tháng trong năm.

Cơ cấu chi phí điều trị PrEP tại các phòng khám tập trung nhiều nhất vào các khoản mục nào? Cơ cấu chi phí bị chi phối chủ yếu bởi hai khoản mục là chi phí xét nghiệm định kỳ (chiếm 34,15%) và chi phí thuốc ARV TDF/FTC (chiếm 33,57%). Tổng cộng hai cấu phần kỹ thuật này đã chiếm tới 67,72% ngân sách điều trị, trong khi chi phí vận hành chiếm 12,35% và nhân sự y tế chiếm phần còn lại.

Kịch bản tài chính nào được xem là tối ưu nhất khi nguồn viện trợ quốc tế PEPFAR chấm dứt? Phương án tối ưu nhất là chuyển giao gói PrEP sang cơ chế Quỹ Bảo hiểm Y tế đồng chi trả 80% kết hợp người bệnh chi trả 20%, song song với đấu thầu thuốc tập trung quốc gia. Mô hình này giúp giảm gánh nặng từ mức 134,7 tỷ đồng xuống mức ngân sách BHYT chỉ phải chi trả khoảng 10,6 - 12,3 tỷ đồng mỗi năm.

Tại sao mô hình phòng khám do cộng đồng quản lý lại thu hút MSM tham gia PrEP vượt trội hơn cơ sở công lập? Phòng khám cộng đồng như Glink đạt số lượt phục vụ gấp 3,7 lần trung tâm y tế công lập (1.235 lượt so với 328 lượt) nhờ đội ngũ nhân viên là người trong cộng đồng, giúp xóa bỏ rào cản mặc cảm kỳ thị, tạo không gian tư vấn thân thiện và đảm bảo tính bảo mật thông tin cá nhân cho khách hàng.

Kết luận

  • Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM tại Hà Nội diễn biến phức tạp ở mức 11,2%, đòi hỏi phải duy trì liên tục chương trình can thiệp PrEP cho mục tiêu 34.008 khách hàng giai đoạn 2021-2025.
  • Chi phí điều trị PrEP trung bình tại Hà Nội được xác lập ở mức 355.000 đồng/khách hàng/tháng và 1.970.000 đồng/khách hàng/năm với thời gian duy trì trung bình 5,5 tháng.
  • Thuốc kháng virus (33,57%) và xét nghiệm cận lâm sàng (34,15%) là hai cấu phần chiếm tỷ trọng chi phí cao nhất trong toàn bộ gói dịch vụ.
  • Ngân sách Nhà nước sẽ phải gánh khoản chi phí lên tới 134,7 tỷ đồng trong giai đoạn 2023-2025 nếu không sớm đưa PrEP vào danh mục Bảo hiểm Y tế đồng chi trả (mức chi trả quỹ BHYT khoảng 10,6 - 12,3 tỷ đồng/năm).
  • Các cơ quan quản lý cần khẩn trương thực hiện đấu thầu thuốc quốc gia và tích hợp chi trả PrEP qua BHYT trước năm 2024 để đảm bảo cam kết chấm dứt đại dịch AIDS vào năm 2030.

Luận văn đã đóng góp bằng chứng thực chứng quý giá đầu tiên về tác động ngân sách của chương trình PrEP tại Việt Nam, mở đường cho việc xây dựng chính sách tài chính y tế bền vững. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và tổ chức xã hội hãy chủ động tham khảo chi tiết công trình để áp dụng hiệu quả vào công tác điều hành và phát triển các mô hình can thiệp y tế công cộng.