Luận văn ước tính chi phí chương trình điều trị dự phòng trước phơi nhiễm hiv bằng thuốc kháng hiv ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại hà nội giai đoạn 2021 2025

Chuyên khảo phân tích Luận văn ước tính chi phí chương trình điều trị dự phòng trước phơi nhiễm hiv bằng thuốc kháng hiv, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2022

123
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chi Phí PrEP cho MSM Hà Nội 2021 2025

Nghiên cứu này tập trung vào ước tính chi phí chương trình điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) bằng thuốc kháng HIV cho MSM tại Hà Nội giai đoạn 2021-2025. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam giới quan hệ tình dục đồng giới tăng nhanh chóng ở Việt Nam, đặc biệt tại Hà Nội. Chương trình PrEP được triển khai nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV và giảm gánh nặng tài chính cho hệ thống y tế. Tuy nhiên, nguồn tài trợ quốc tế cho chương trình này đang giảm dần, đòi hỏi cần có đánh giá chi phí để chuẩn bị nguồn lực tài chính trong nước. PrEP cho MSM Hà Nội là một giải pháp quan trọng để kiểm soát dịch HIV. Nghiên cứu này cung cấp dữ liệu quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách để đảm bảo tính bền vững của chương trình PrEP.

1.1. Tình Hình Nhiễm HIV ở MSM Hà Nội Thách Thức Cấp Bách

Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm MSM Hà Nội tăng đáng báo động trong những năm gần đây. Kết quả giám sát HIV cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong cộng đồng MSM tăng từ 5,1% năm 2015 lên 13,3% năm 2020. MSM được coi là một trong những nhóm nguy cơ chính lây nhiễm HIV qua đường tình dục. Các hành vi nguy cơ cao như sử dụng ít bao cao su và dùng ma túy tổng hợp góp phần làm tăng tỷ lệ nhiễm HIV.

1.2. Vai Trò Của Chương Trình PrEP Giải Pháp Dự Phòng Hiệu Quả

PrEP (điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng thuốc kháng HIV) đã được chứng minh hiệu quả trong việc giảm nguy cơ lây nhiễm HIV. Nghiên cứu cho thấy PrEP làm giảm lây nhiễm HIV đến 86% ở nhóm MSM. Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 1246/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược Quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030, trong đó đặt ra chỉ tiêu điều trị PrEP cho MSM. Mục tiêu là giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV.

II. Vấn Đề Cấp Thiết Chi Phí PrEP Hà Nội Nguồn Tài Trợ

Hiện tại, nguồn kinh phí cho chương trình điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng thuốc kháng HIV tại Hà Nội chủ yếu do Kế hoạch khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ về phòng, chống AIDS (PEPFAR) viện trợ thông qua dự án EPIC và PATH/Heathy Market. Tuy nhiên, chương trình PEPFAR chưa có cam kết tài trợ cho chương trình PrEP tại các tỉnh/thành phố trọng điểm sau năm 2023. Do đó, nghiên cứu này sẽ ước tính chi phí PrEP Hà Nội để chuẩn bị các nguồn lực tài chính trong nước đảm bảo duy trì chương trình PrEP. Việc ước tính chi phí chương trình PrEP là cần thiết trong bối cảnh hiện tại, để có nhiều thông tin hơn, chuẩn bị các nguồn lực tài chính trong nước đảm bảo duy trì PrEP tại Hà Nội cũng như tại các tỉnh, thành phố khác.

2.1. Nguy Cơ Thiếu Hụt Nguồn Lực Khi Viện Trợ Quốc Tế Cạn Kiệt

Chiến lược Quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 nêu rõ cần huy động từ các nguồn lực trong nước để bù đắp thiếu hụt kinh phí khi các nguồn viện trợ Quốc tế giảm dần và chấm dứt. PEPFAR chưa cam kết tài trợ cho PrEP sau năm 2023, tạo ra áp lực lớn cho ngân sách trong nước. Cần có kế hoạch tài chính rõ ràng để đảm bảo tính bền vững của chương trình PrEP.

2.2. Thiếu Đánh Giá Chi Phí Cần Thiết Để Lập Kế Hoạch Hiệu Quả

Tại thời điểm thực hiện nghiên cứu, chưa có đánh giá tác động ngân sách của việc triển khai chương trình PrEP tại Việt Nam được công bố. Điều này gây khó khăn cho việc lập kế hoạch tài chính và phân bổ nguồn lực hiệu quả. Nghiên cứu này lấp đầy khoảng trống thông tin quan trọng này, cung cấp dữ liệu để xây dựng chính sách phù hợp.

III. Cách Phân Tích Chi Phí Điều Trị PrEP cho MSM Chi Tiết

Nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá tác động ngân sách, phân tích chi phí từ quan điểm của người cung cấp dịch vụ. Dữ liệu được thu thập từ tất cả hồ sơ bệnh án năm 2021 của 2 phòng khám Glink và TTYT quận Nam Từ Liêm – Hà Nội. Phân tích bao gồm chi phí thuốc PrEP, xét nghiệm, vận hành và các chi phí liên quan khác. Mục tiêu là ước tính chi phí trung bình điều trị PrEP ở nhóm MSM và dự báo chi phí chương trình trong giai đoạn 2023-2025.

3.1. Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Đảm Bảo Tính Chính Xác và Tin Cậy

Dữ liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm hồ sơ bệnh án, phần mềm quản lý khách hàng HMED và phỏng vấn chuyên gia. Sử dụng phiếu tổng hợp để thu thập số liệu một cách hệ thống. Bảng khảo sát cơ sở cung cấp dịch vụ PrEP và bảng quan sát thao tác - thời gian được sử dụng. Đảm bảo tính bảo mật thông tin cá nhân.

3.2. Các Biến Số Nghiên Cứu Xác Định Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chi Phí

Nghiên cứu xác định các biến số liên quan đến chi phí, bao gồm số lượng khách hàng, tần suất khám, loại xét nghiệm và chi phí thuốc. Bảng biến số về số lượng và bảng biến số về chi phí được sử dụng. Các tham số như tỷ lệ duy trì điều trị và giá thuốc cũng được xem xét. Bảng tham số được sử dụng.

3.3. Ước Tính Chi Phí Áp Dụng Các Kịch Bản Khác Nhau

Nghiên cứu này sử dụng các kịch bản khác nhau, mỗi kịch bản phản ánh các phương án chi trả khác nhau cho chương trình PrEP, bao gồm nguồn viện trợ và nhà nước cùng chi trả, ngân sách nhà nước chi trả toàn bộ và BHYT đồng chi trả. Mỗi kịch bản được phân tích để đánh giá tác động đến ngân sách nhà nước. Các chi phí dịch vụ được tính toán cẩn thận.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Chi Phí PrEP Thực Tế Tại Hà Nội 2021

Kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí trung bình điều trị PrEP ở nhóm MSM là 355 nghìn đồng/người/tháng (15,27 đô la Mỹ). Chi phí trung bình điều trị PrEP ở nhóm MSM là 1 triệu 970 nghìn đồng/ người/năm (84,76 đô la Mỹ) với số tháng điều trị trung bình khoảng 5,5 tháng. Chi phí thuốc PrEP chiếm 33,57%, xét nghiệm chiếm 34,15%, vận hành 12,35%. Để Hà Nội đạt mục tiêu điều trị cho 34.008 khách hàng MSM, tổng ngân sách cho điều trị PrEP giai đoạn 2021 – 2025 là 71,4 tỷ đồng.

4.1. Phân Tích Chi Phí Chi Tiết Yếu Tố Nào Chiếm Tỷ Trọng Lớn

Chi phí thuốc PrEP và xét nghiệm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí điều trị PrEP. Chi phí vận hành cũng đóng vai trò quan trọng. Cần tìm kiếm các giải pháp để giảm chi phí thuốc và xét nghiệm. Chi phí xét nghiệm định kỳ chiếm phần lớn gánh nặng chi phí.

4.2. Ngân Sách Dự Kiến Để Đạt Mục Tiêu Điều Trị PrEP

Để đạt được mục tiêu điều trị PrEP cho MSM tại Hà Nội, cần có ngân sách đáng kể. Ngân sách cần thiết bao gồm chi phí thuốc, xét nghiệm, nhân lực và cơ sở vật chất. Cần có kế hoạch huy động nguồn lực tài chính từ nhiều nguồn khác nhau.

V. Dự Báo Chi Phí PrEP cho MSM Kịch Bản Đến 2025

Trong kịch bản ngân sách nhà nước chi trả, tổng chi phí điều trị PrEP cho nhóm MSM tại Hà Nội cho cả giai đoạn 2023 - 2025 là 134,7 tỷ đồng. Trong kịch bản BHYT chi trả cho điều trị PrEP, tính theo chỉ tiêu khách hàng MSM giai đoạn 2023-2025, số tiền BHYT phải chi trả cho khách hàng có thẻ BHYT từ 10,6 tỷ năm 2023 đến năm 2025 là 12,3 tỷ. Nghiên cứu này đánh giá tiềm năng tham gia của BHYT vào chi trả dịch vụ PrEP.

5.1. Kịch Bản Ngân Sách Nhà Nước Gánh Nặng Tài Chính

Nếu ngân sách nhà nước chi trả toàn bộ chi phí PrEP, gánh nặng tài chính sẽ rất lớn. Cần có kế hoạch phân bổ ngân sách hợp lý và tìm kiếm các giải pháp để giảm chi phí. Cần xem xét các biện pháp can thiệp tiết kiệm chi phí.

5.2. Kịch Bản BHYT Giải Pháp Chia Sẻ Gánh Nặng Chi Phí

BHYT có thể đóng vai trò quan trọng trong việc chi trả chi phí PrEP. Cần có chính sách phù hợp để khuyến khích người dân tham gia BHYT. Việc đưa PrEP vào danh mục chi trả của BHYT sẽ giúp giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

VI. Kết Luận Kiến Nghị Đảm Bảo PrEP Bền Vững ở Hà Nội

Trong bối cảnh các tổ chức quốc tế vẫn còn hỗ trợ, Việt Nam cần tận dụng tối đa các nguồn lực trong nước và quốc tế để đạt được mục tiêu về điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV, mở rộng cơ sở điều trị do nhóm cộng đồng thành lập. Trong giai đoạn tới, cân nhắc việc đấu thầu rộng rãi thuốc PrEP cấp quốc gia để giảm giá thành thuốc TDF/FTC so với giá công khai tại thời điểm hiện tại. và có thể đưa PrEP vào BHYT chi trả và khách hàng đồng chi trả để triển khai chương trình PrEP. PrEP miễn phí Hà Nội cần được thay thế bằng các giải pháp bền vững hơn.

6.1. Tối Ưu Hóa Chi Phí Các Giải Pháp Tiết Kiệm Hiệu Quả

Cần tìm kiếm các giải pháp để tối ưu hóa chi phí PrEP, bao gồm đàm phán giá thuốc, sử dụng thuốc generic, cải thiện hiệu quả xét nghiệm và giảm chi phí vận hành. Cần có đánh giá chi phí hiệu quả để lựa chọn các biện pháp can thiệp phù hợp. Nên cân nhắc các phác đồ điều trị PrEP thay thế.

6.2. Chính Sách Nguồn Lực Đảm Bảo Tính Bền Vững Của PrEP

Cần có chính sách rõ ràng và cam kết nguồn lực từ chính phủ để đảm bảo tính bền vững của chương trình PrEP. Cần tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế và huy động sự tham gia của cộng đồng. Cần có hệ thống giám sát và đánh giá hiệu quả chương trình PrEP.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2025
Luận văn ước tính chi phí chương trình điều trị dự phòng trước phơi nhiễm hiv bằng thuốc kháng hiv ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại hà nội giai đoạn 2021 2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Tình hình dịch HIV/AIDS trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới trên Thế giới và Việt Nam 1. Tình hình dịch HIV/AIDS trong quần thể MSM trên thế giới HIV/AIDS là dịch bệnh nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với sức khỏe, tính mạng của con người và phát triển kinh tế - xã hội, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu (1,6). Kể từ khi ghi nhận ca nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới năm 1981, tính đến năm 2019, thế giới có khoảng 37,7 triệu người sống chung với HIV và dịch tập trung chủ yếu ở châu Phi với 25,4 triệu người (chiếm 67,7%). Năm 2019 cũng ghi nhận 1,5 triệu ca nhiễm mới HIV và 680 nghìn người chết vì các nguyên nhân liên quan đến HIV(8).

Dịch HIV/AIDS xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, từ năm 2010 đến năm 2019, dịch có xu hướng gia tăng ở Đông Âu và Trung Á với số ca nhiễm tăng 72%, Trung Đông và Bắc Phi tăng 22%, châu Mỹ La tinh tăng 21%. Trong đó, tỷ lệ nam giới nhiễm HIV chiếm 52% (9). Năm 2015, Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Châu Âu báo cáo 42% ca mới nhiễm HIV ở Liên minh Châu Âu và khu vực kinh tế châu Âu là nam quan hệ tình dục đồng giới (10). Năm 2019, trên thế giới ghi nhận 23% người nhiễm mới HIV là nam quan hệ tình dục đồng giới.

Trong đó, 40% ca nhiễm mới HIV là MSM ở Châu Á – Thái Bình Dương và Châu Mỹ La tinh, 64% ca nhiễm HIV mới là MSM ở Trung Âu và Bắc Mỹ (9). Ở Châu Á, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới thường cao hơn so với các nhóm quần thể nguy cơ khác. Ước tính tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới ở thành phố Phnom Penh, Campuchia là 14%; thành phố Andrha Pradesh, Ấn Độ là 16% và ở thành phố Bangkok, Thái Lan lên đến 28% (11). Tình hình dịch HIV/AIDS trong quần thể MSM tại Việt Nam Tại Việt Nam, tính đến ngày 31/12/2020, lũy tích cả nước có 215.220 người nhiễm HIV đang còn sống và 108.719 người nhiễm HIV đã tử vong.

Năm 2020, toàn quốc xét nghiệm phát hiện 12.200 trường hợp mới nhiễm HIV, tăng so với năm 2019 (8.479 trường hợp nhiễm mới), số bệnh nhân tử vong là 1.681 trường hợp (1,12), tỷ trọng lây truyền HIV qua quan hệ tình dục tăng từ 68,2% (năm 2019) lên 77,7%. Số người mới phát hiện nhiễm HIV tập trung chủ yếu ở độ tuổi 16 – 29 (chiếm 45%) và 30 – 39 tuổi (chiếm 31%), nam quan hệ tình dục đồng giới chiếm 47% với đường lây chủ yếu là quan hệ tình dục không an toàn (chiếm 75,8%) (12). 100% 90% 80% 70% MSM,TG 60% (47%) 50% 40% 30% 20% 10% 0% 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 Lây qua đường máu Lây qua đường tình dục Mẹ truyền sang con Không rõ Biểu đồ 1. Phân bổ người nhiễm HIV theo nhóm đối tượng.

Nguồn: Báo cáo giám sát trọng điểm HIV năm 2022 (13) 6 Từ năm 2015 đến năm 2020, kết quả giám sát HIV (bao gồm cả giám sát hành vi kết hợp các chỉ số sinh học qua các vòng) báo cáo tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tăng nhanh từ 5,1% đến 13,3% (1).6 5 0 04' 05' 06' 07' 08' 09' 10' 11' 12' 13' 14' 15' 16' 17' 18' 19 20 NCMT PNBD MSM Biểu đồ 1. Tỷ lệ lây nhiễm HIV giữa các nhóm nguy cơ cao. Nguồn: Báo cáo giám sát trọng điểm HIV năm 2020 (14) Khi phân tích đặc điểm và hành vi nguy cơ của nhóm MSM cho thấy nhóm MSM có nhiều hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV. Cụ thể, tỷ lệ dùng BCS lần QHTD xâm nhập qua đường hậu môn gần nhất có xu hướng giảm dần (từ 66,4% năm 2013 xuống 63% năm 2018); tỷ lệ dùng BCS thường xuyên khi QHTD đồng giới giảm mạnh (từ 42% năm 2012 xuống 9,7% năm 2016); tỷ lệ từng dùng ma túy tổng hợp khá cao (khoảng 22% - 33% trong giai đoạn 2011-2016; nhưng đã tăng đột biến từ 16,7% năm 2014 lên 40% năm 2015); tỷ lệ từng TCMT duy trì ở mức tương đối cao (khoảng 3-5% trong giai đoạn 2011-2016).

Số liệu theo dõi cho thấy tỷ lệ được xét nghiệm HIV và biết kết quả xét nghiệm trong 12 tháng qua tính đến trước năm 2016 ở mức thấp (29,3%) và đang có xu hướng giảm qua các năm. Tỷ lệ tiếp cận chương trình dự phòng trong 12 tháng qua giảm theo thời gian: Từ 49% năm 2012, 34% năm 2014, 28,4% năm 2015 và 10% năm 2016 (2). Theo ước tính của Cục Phòng, chống HIV/AIDS năm 2018, trong cộng đồng đang có khoảng 168.735 MSM, đây là cơ sở để định hướng triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trong quần thể nam quan hệ tình dục đồng giới (15). 7 Dịch HIV/AIDS đang có nguy cơ và xu hướng quay trở lại nếu không có được quan tâm đầu tư thỏa đáng để triển khai những biện pháp can thiệp mạnh mẽ và hiệu quả (1).

Chương trình can thiệp dự phòng HIV cho nhóm MSM Các chương trình can thiệp giảm hại dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm quần thể đích như cấp phát bao cao su và chất bôi trơn trước đây chủ yếu can thiệp trên nhóm Phụ nữ bán dâm. Năm 2016, tỷ lệ MSM được tiếp cận với các dịch vụ y tế như tư vấn, xét nghiệm HIV chưa cao, chỉ khoảng 29,3% nam quan hệ tình dục đồng giới được xét nghiệm HIV và biết kết quả xét nghiệm HIV trong vòng một năm(12). Theo báo cáo của Cục Phòng, chống HIV/AIDS năm 2019, số lượng bao cao su, chất bôi trơn được phát miễn phí cho nhóm MSM khá thấp, khoảng 59.000 người MSM ước tính. Đến năm 2020, tỷ lệ MSM được nhận các can thiệp giảm hại như nhận bao cao su, chất bôi trơn, được tư vấn tình dục an toàn hay được khám STIs ở mức dưới 50%.

6 tháng đầu năm 2021, số lượng MSM tại Hà Nội được nhận chất bôi trơn là 2.970 lượt MSM được nhận bao cao su/ 31.080 MSM ước tính. Nhận BCS miễn phí trong 6 Nhận được chất bôi trơn miễn tháng qua phí trong 6 tháng qua 43.0% 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2020 2014 2015 2016 2017 2018 2020 Có Không Có Không 8 Nhận được tư vấn sử dụng BCS Được khám STIs trong 3 tháng và tình dục an toàn trong 6 qua tháng qua 54.3% 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2020 2017 2018 2020 Có Không Không Có Biểu đồ 1. Các chương trình can thiệp cho nhóm MSM. Nguồn : báo cáo giám sát trọng điểm HIV năm 2020 (14) Trong giai đoạn 2016-2018, dưới sự nỗ lực của mạng lưới y tế, tỷ lệ MSM được xét nghiệm HIV trong 12 tháng tăng lên đến 64,7% vào năm 2018 (2).

Năm 2017, Chương trình điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng thuốc kháng HIV được triển khai thí điểm tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh với 1.700 người tham gia tại 5 cơ sở y tế công và 5 cơ sở y tế tư nhân. Đối tượng tham gia thí điểm bao gồm nhóm MSM, bạn tình của người nhiễm HIV chưa điều trị ARV hoặc điều trị ARV nhưng tải lượng vi rút trên 200 bản sao/ml máu, người chuyển giới nữ. Đồng thời, năm 2017, WHO đưa ra khuyến cáo các quốc gia cần triển khai PrEP cho các quần thể nguy cơ cao.

Chương trình điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng thuốc kháng HIV (PrEP) PrEP là một biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV bằng thuốc kháng HIV cho người có hành vi nguy cơ cao chưa nhiễm HIV. PrEP giúp phòng ngừa lây nhiễm HIV trong cơ thể bằng cách ngăn cản sự phát triển chất xúc tác sinh học (enzim) là chất mà HIV dùng để tạo ra các bản sao vi rút mới (16). Từ năm 2017, Tổ chức Y tế 9 Thế giới khuyến cáo PrEP là biện pháp dự phòng trước phơi nhiễm HIV cho những người có hành vi nguy cơ cao chưa nhiễm HIV (17). Dựa trên kết quả các nghiên cứu của thế giới cho thấy, khi dùng PrEP 7 liều 1 tuần có thể phòng lây nhiễm HIV lên đến 99% khi QHTD qua đường hậu môn (2,17,18).

Năm 2014, nghiên cứu thử nghiệm iPrEx trên 2499 người tham gia là nam quan hệ tình dục đồng giới, người chuyển giới sử dụng FTC/TDF 1 viên mỗi ngày tại 6 quốc gia là Braxin, Ecuador, Peru, Nam Phi, Thái Lan và Hoa Kỳ cho hiệu quả của PrEP trong việc ngăn ngừa HIV lên đến 90%(19). Các bằng chứng từ 18 nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng cho kết quả rằng điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng thuốc kháng HIV (PrEP) làm giảm đến hơn 70% nguy cơ lây nhiễm HIV so với giả dược (18). Việc tuân thủ sử dụng PrEP tại các quần thể nguy cơ cao sẽ phòng lây nhiễm HIV hiệu quả và tiết kiệm chi phí, đặc biệt trong nhóm quần thể nam quan hệ tình dục đồng giới (17,20,21). Chương trình điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng thuốc kháng HIV cho nhóm MSM trên thế giới Nhiều nước trên thế giới bắt đầu đầu tư nguồn lực (con người và tài chính) cho điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng thuốc ARV.

Một số quốc gia tại Châu Phi như Kenya – quốc gia có chương trình PrEP lớn nhất Châu Phi, đầu tư 2,4 triệu đô la Mỹ cho các can thiệp dự phòng lây nhiễm ở nhóm MSM với 54,4 nghìn người được nhận ít nhận 1 lần điều trị PrEP, Lesotho chi 188 nghìn đô la Mỹ cho chương trình dự phòng lây nhiễm HIV với 35,5 nghìn người được nhận ít nhất 1 lần điều trị PrEP. Chương trình điều trị dự phòng trước phơi nhiễm bằng thuốc kháng HIV cũng được triển khai tại nhiều quốc gia như Zambia, Zimbabwe, New Zealand, Thái Lan, Úc, Campuchia, …(9). Tại một số nước, PrEP đang được cung cấp qua hệ thống bảo hiểm y tế hoặc do Chính Phủ/ tổ chức phi Chính phủ tài trợ hoặc do người dân tự chi trả dịch vụ. Tại London, Anh, khi PrEP được cung cấp qua hình thức trực tuyến, từ năm 2015 – 2016, báo cáo ghi nhận giảm 40% số ca nhiễm mới HIV tại 4 phòng khám 10 sức khỏe tình dục tại nước này.

Năm 2016, Úc tiến hành thử nghiệm PrEP và sau 1 năm, số ca nhiễm HIV mới đã giảm 48,7% trong cộng đồng nam đồng tính ở Úc. Bra- xin là một trong những quốc gia cung cấp chương trình PrEP miễn phí cho khoảng 50 nghìn người thuộc quần thể có nguy cơ cao (phụ nữ mại dâm, nam quan hệ tình dục đồng giới, người chuyển giới).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chi Phí Chương Trình Điều Trị Dự Phòng HIV Bằng Thuốc Kháng HIV Ở Nam Quan Hệ Tình Dục Đồng Giới Tại Hà Nội (2021-2025)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về chi phí và hiệu quả của chương trình điều trị dự phòng HIV cho nam giới quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội. Tài liệu này không chỉ phân tích các yếu tố chi phí mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp cận dịch vụ y tế cho nhóm đối tượng này, từ đó góp phần nâng cao nhận thức và cải thiện sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nhu cầu hỗ trợ sau phẫu thuật của gia đình và trẻ em bị tim bẩm sinh, nơi nghiên cứu về nhu cầu hỗ trợ y tế cho trẻ em. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng tiêm vắc xin phòng bệnh cúm mùa của nữ tuổi sinh đẻ sẽ cung cấp thông tin về các giải pháp can thiệp y tế hiệu quả. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thực trạng và xu hướng bệnh ung thư tại hà nội, giúp bạn nắm bắt được tình hình sức khỏe cộng đồng trong giai đoạn gần đây. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề y tế hiện nay.