CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI BUỘC THựC HIỆN HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Co* sở lí luận về chế tài buộc thực hiện hợp đồng 1. Khái niệm chế tài buộc thực hiện hợp đồng Hợp đồng là một trong các khái niệm đầu tiên của pháp luật, được hình thành ngay từ khi con người thực hiện những giao dịch đầu tiên. Thuật ngừ họp đồng còn được dùng để chỉ các quan hệ pháp luật phát sinh từ họp đồng, để chỉ văn bản chứa đựng nội dung của hợp đồng [19].
Hợp đồng có thể được thực hiện ngay khi các bên đạt được sự thoả thuận. Đối với các họp đồng đơn giản này, cử chỉ, lời nói là hình thức thể hiện hợp đồng. Cùng với sự gia tăng nhu cầu trao đồi, nhất là từ khi giới thương gia hình thành, việc thực hiện hợp đồng dần dần tách khỏi thời điểm các bên đạt được sự thoả thuận, và họp đồng dưới hình thức văn bản xuất hiện. Để chổng lại sự gian dối, lật lọng trong giao dịch, hình thức văn bản có chứng thực, chứng nhận dần được hình thành.
Chế định họp đồng đạt được sự hoàn thiện cả về nội dung và hình thức vào thời kì đàu của xã hội tư sản. Cùng với sự phát triển của xã hội, các nguyên tắc cơ bản của hợp đồng từng bước bị hạn chế nhằm bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng [9]. Ở Việt Nam, các quy định về hợp đồng không được thể hiện một cách tập trung thành một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, mà mồi loại hợp đồng được quy định trong một văn bản như: hợp đồng dân sự trong Bộ luật dân sự, họp đồng thương mại trong Luật thương mại. Theo Điều 385 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 thì: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đoi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”.
7 Sau khi các bên đã giao kêt hợp đông dưới một hình thức nhât định phù hợp với pháp luật và hợp đồng đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật yêu cầu (Điều 122 BLDS năm 2005; Điều 117 BLDS năm 2015) thì họp đồng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Nghĩa là, từ thời điểm đó, các bên trong họp đồng bẳt đầu có quyền và nghĩa vụ dân sự đối vói nhau. Vì vậy, thực hiện hợp đồng dân sự là việc các bên tiến hành các hành vi mà mồi một bên tham gia họp đồng phải thực hiện nhằm đáp ứng những quyền dân sự tương ứng của bên kia [8]. Khi thực hiện hợp đồng dân sự, các bên phải tuân thủ các nguyên tắc đã được BLDS quy định.
Thực hiện đúng, đầy đủ các điều khoản về đối tượng, địa điểm, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác mà nội dung của họp đồng đã xác định. Ngoài ra, việc thực hiện hợp đồng dân sự còn phải tuân theo những cách thức mà pháp luật đã quy định đối với từng loại hợp đồng cụ thể. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng các bên có thể vi phạm một hay nhiều nghĩa vụ trong hợp hợp đồng, thì bên vi phạm phải chịu hậu quả do chính hành vi của họ gây ra, hậu quả đó có thể được quy định trong hợp đồng hoặc do pháp luật quy định. Hành vi vi phạm hợp đồng chỉ xảy ra khi hợp đồng được giao kết hợp pháp và đã có hiệu lực pháp luật.
Nội dung của họp đồng là sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Chính vì vậy, về nguyên tắc hành vi thực hiện không đúng, không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng do các bên đã cam kết, thỏa thuận hay dựa trên quy định cùa pháp luật thì khi đó hành vi đó sẽ bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng. Và khi xảy ra vi phạm hợp đồng thì sẽ phải xử lý vi phạm, việc chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả của vi phạm hợp đồng đó sẽ được thực hiện thông qua các chế tài đã được cụ thể hóa bằng điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định pháp luật. 8 Chê tài là một trong ba bộ phận câu thành quy phạm pháp luật.
Chê tài là bộ phận xác định hình thức trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm ghi rõ trong phần quy định và giả định của quy phạm pháp luật. Căn cử tính chất nhóm quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, chế tài phân chia thành nhiều loại bao gồm: chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự. Việc áp dụng chế tài sẽ phụ thuộc vào những đặc điểm của lợi ích pháp luật càn bảo vệ, căn cứ vào tính chất hành vi phạm pháp, mức độ thiệt hại và những vấn đề khác có liên quan [4]. Vậy, khái niệm chế tài là những biện pháp tác động mà Nhà nước sẽ áp dụng đổi với những chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đủng các quy tắc xử sự chung đã được nêu rõ trong phần già định của quy phạm và cũng là hậu quả pháp lý bất lọi mà chủ thê sẽ phải gánh chịu nếu không thực hiện đúng nội dung tại phần quy định.
Trong giao dịch dân sự, thương mại, chế tài là các biện pháp bảo đảm hiệu lực của hợp đồng, bảo vệ lợi ích chính của bên bị vi phạm, chế tài là công cụ để cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp. Đặc điếm của chế tài là có sau khi hợp đồng được giao kết, là hậu quả pháp lý bất lợi đối với bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 351 BLDS năm 2015 quy định “ví phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung nghĩa vụ”, khoản 12 Điều 3 LTM 2005 quy định: “Ví phạm họp đồng là một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đủng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của luật này” [14]. Như vậy, các chủ thể phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng, theo đó bên có vi phạm họp đồng phải chịu trách nhiệm do hành vi vi phạm của mình gây ra.
Khi tới thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thì sẽ phát sinh trách 9 nhiệm. Khi xảy ra việc không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì trước hết bên có quyền thường áp dụng các biện pháp buộc bên vi phạm tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng vì việc thực hiện đúng hợp đồng là mối quan tâm hàng đầu của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng. Chỉ khi không khắc phục được vi phạm, bên có quyền mới áp dụng các biện pháp chế tài khác như: phạt vi phạm, hủy họp đồng hay yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra. Vậy, chế tài buộc thực hiện hợp đồng là gì? Theo Khoản 4, Điều 11 BLDS 2015 quy định là “Buộc thực hiện nghĩa vụ”, phương thức này buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ nhằm bào vệ quyền dân sự cho bên có quyền bị vi phạm.
Tại phần chế tài trong thương mại của LTM 2005, cụ thể ớ Điều 292 quy định các loại chế tài nêu rõ một trong những chế tài thương mại đó là: “Buộc thực hiện đủng hợp đồng”, Khoản 1 Điều 297 có khái niệm cụ thể về chế tài này: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đủng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác đê hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh” [14]. Và ờ Điều 352 BLDS 2015 cũng quy âịnh:“Khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ” [15], Biện pháp này bảo vệ quan hệ hợp đồng và giúp các bên đạt được những lợi ích mà họ hướng đến khi giao kết hợp đồng. Từ những phân tích trên, có thể hiểu chế tài buộc thực hiện hợp đồng chính là buộc thực hiện nghĩa vụ, buộc thực hiện đúng hợp đồng, buộc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ họp đồng đã giao kết. Vậy khái niệm về chế tài buộc thực hiện họp đồng được đưa ra như sau: Chế tài buộc thực hiện hợp đồng là những biện pháp mà bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đủng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác đê hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh.
Đặc điểm của chế tài buộc thực hiện hợp đồng Từ khái niệm về chế tài buộc thực hiện hợp đồng, có thể rút ra một số đặc điểm sau: [12] Một là, căn cứ để áp dụng chế tài buộc thực hiện họp đồng phải là có hành vi vi phạm hợp đồng và có lồi của bên vi phạm. Theo đó, cơ sờ để phát sinh chế tài này một trong các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết trong hợp đồng như: không giao hàng, giao thiếu hàng, giao hàng không đúng chủng loại, kém chất lượng. Bên có quyền lợi bị vi phạm sẽ có quyền buộc bên còn lại thực hiện đúng hợp đồng nếu sự vi phạm cam kết là do lỗi của bên vi phạm. Hai là, để hợp đồng được thực hiện đúng các cam kết đã thỏa thuận, bên bị vi phạm có các lựa chọn sau: yêu cầu bên bị vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc là lựa chọn các biện pháp khác.
Ba là, bên bị vi phạm có thể quyết định áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trước khi sử dụng các chế tài hợp đồng khác mà không bị mất đi quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm hợp đồng. Bon là, bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng hóa khác chùng loại, loại dịch vụ khác đề thay thế nếu không có sự chấp thuận của bên bị vi phạm. Năm là, biểu hiện cụ thể của chế tài này là bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết trong họp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện như tự sửa chữa khuyết tật của hàng hóa, thiếu sót của dịch vụ, mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của người khác theo đúng loại hàng hóa, dịch vụ ghi trong hợp đồng và mọi tổn thất phát sinh bên vi phạm sẽ phải chịu. Sáu là, trong trường hợp bất khả kháng (thiên tai, địch họa.