I. Tổng Quan Chế Độ Tài Sản Vợ Chồng Pháp Luật Điều Chỉnh
Kết hôn là sự kiện trọng đại, kéo theo các vấn đề pháp lý liên quan đến tài sản vợ chồng. Quản lý tài sản là nhu cầu thiết yếu để đảm bảo cuộc sống gia đình. Luật Hôn nhân và Gia đình (LHNGĐ) đã đưa ra các chế định riêng, trong đó, chế độ tài sản theo thỏa thuận (CĐTS theo thỏa thuận) nổi bật như một giải pháp linh hoạt. Ưu điểm của nó là cho phép vợ chồng tự chủ trong quản lý tài sản riêng, đầu tư kinh doanh độc lập. Tuy nhiên, từ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Việc áp dụng CĐTS này chưa đạt hiệu quả mong muốn, đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về pháp luật và cải thiện hệ thống pháp lý. Việc tạo cơ chế thực thi hiệu quả là rất quan trọng để CĐTS có thể thực hiện một cách hiệu quả nhất trong thực tế. Các quy định hiện hành về CĐTS theo thỏa thuận còn rất khiêm tốn và chỉ giới hạn nằm ở các Điều 47, 48, 49, 50 và 59 của Luật HNGĐ năm 2014. Ngoài ra, cũng được hướng dẫn bởi các điều 15, 16, 17, 18 Nghị định số 126/CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HNGĐ năm 2014. Bên cạnh đó Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 có một số hướng dẫn cụ thể quy định thi hành quy định của Luật HNGĐ năm 2014. Các quy định này liên quan đến các khía cạnh của thỏa thuận về CĐTS. Đây là quy định mới rất đặc biệt của LHNGĐ năm 2014.
1.1. Khái Niệm Đặc Điểm Chế Độ Tài Sản Theo Thỏa Thuận
CĐTS theo thỏa thuận là hợp đồng dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện. Là sự thỏa thuận về việc xác lập tài sản, thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng, các trường hợp phân chia tài sản và nguyên tắc chia tài sản do cả hai vợ chồng cùng thỏa thuận. Hơn nữa, CĐTS thỏa thuận giữa vợ chồng là một thỏa thuận bằng văn bản được lập trước khi kết hôn, nhằm quy định chế độ tài sản của vợ trong suốt thời kỳ hôn nhân. Thỏa thuận này được thể hiện bằng văn bản được gọi nhiều tên khác nhau như là hôn ước, thỏa thuận tiền hôn nhân.” (Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014). Với tư cách là công dân, khi vợ chồng thực hiện quyền sở hữu và tham gia giao dịch dân sự, họ không chỉ là chủ thể của quan hệ HNGĐ mà còn là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.
1.2. Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Chế Độ Tài Sản Thỏa Thuận
Từ khi Luật HNGĐ 2014 được ban hành, các cặp đôi có thêm lựa chọn về CĐTS. Thay đổi này cho thấy sự tiến bộ trong tư duy pháp lý và phản ánh sự phát triển của xã hội hiện đại, nơi vai trò của phụ nữ và nam giới bình đẳng hơn. Việc cho phép vợ chồng tự do quyết định về CĐTS là bước tiến lớn trong việc thúc đẩy sự công bằng và tự do cá nhân. Tuy nhiên, việc tự quyết định CĐTS cũng có giới hạn và điều kiện cần thiết để tránh lạm dụng và tranh chấp. Ví dụ như vợ chồng phải thỏa thuận với nhau và không được ép buộc, CĐTS phải được ghi rõ trong hợp đồng kết hôn hoặc tài liệu có giá trị pháp lý và hai bên phải tuân thủ các quy định của pháp luật.
II. Căn Cứ Pháp Lý Xác Lập Chế Độ Tài Sản Vợ Chồng
Theo Điều 47 Luật HNGĐ 2014, thỏa thuận về CĐTS phải được lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn. Để xác lập CĐTS theo thỏa thuận, các bên phải đủ 18 tuổi, không mất năng lực hành vi dân sự, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, không có quan hệ huyết thống trong phạm vi ba đời, không có quan hệ nuôi dưỡng, giáo dục, không có quan hệ hôn nhân trước đó (Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014). Thỏa thuận phải ghi rõ tên, tuổi, địa chỉ vợ chồng, ngày kết hôn, chế độ tài sản được chọn, quyền và nghĩa vụ với tài sản chung và riêng, trách nhiệm với các khoản nợ, điều kiện thay đổi hoặc chấm dứt chế độ tài sản. Thứ nhất, trước khi kết hôn, cả hai bên vợ chồng phải cùng nhau thoả thuận để lựa chọn CĐTS. Sau khi đã thực hiện việc kết hôn mà vợ chồng muốn lựa chọn CĐTS theo thỏa thuận thì không thể lựa chọn được nữa. Thứ hai, nếu các bên đã có thỏa thuận xác lập bằng văn bản về CĐTS theo thỏa thuận thì phải tiến hành đăng ký kết hôn. Thứ ba, thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng không bị vô hiệu hoàn toàn chỉ khi Toà án tuyên bố vô hiệu thì thoả thuận mới bị vô hiệu.
2.1. Yếu Tố Cần Thiết Để Xác Lập Chế Độ Tài Sản Thỏa Thuận
Để thỏa thuận về chế độ tài sản có hiệu lực, cần đáp ứng một số yếu tố. Thứ nhất, các bên phải tự nguyện thỏa thuận trước khi kết hôn. Thứ hai, thỏa thuận phải được lập thành văn bản và công chứng hoặc chứng thực. Thứ ba, nội dung thỏa thuận không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Thứ tư, thỏa thuận có hiệu lực từ ngày đăng ký kết hôn. Ngoài ra, thỏa thuận có thể bị vô hiệu một phần hoặc toàn bộ nếu vi phạm quy định của pháp luật. Thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng không bị vô hiệu hoàn toàn chỉ khi Toà án tuyên bố vô hiệu thì thoả thuận mới bị vô hiệu. Thỏa thuận này có thể bị vô hiệu một phần hoặc toàn bộ, chỉ có trường hợp vô hiệu toàn bộ mới dẫn đến việc thỏa thuận không có tác dụng thiết lập CĐTS theo thỏa thuận.
2.2. Hậu Quả Pháp Lý Của Việc Không Tuân Thủ Quy Định
Nếu không tuân thủ các quy định về hình thức và nội dung của thỏa thuận, thỏa thuận có thể bị tuyên bố vô hiệu. Khi đó, chế độ tài sản của vợ chồng sẽ được xác định theo luật định, tức là tài sản chung của vợ chồng. Điều này có thể gây ra nhiều tranh chấp và khó khăn trong quá trình giải quyết tài sản khi ly hôn. Do đó, việc tuân thủ đúng quy định của pháp luật khi lập thỏa thuận về chế độ tài sản là rất quan trọng.
III. Căn Cứ Chấm Dứt Chế Độ Tài Sản Vợ Chồng Thỏa Thuận
Thứ nhất, trong quá trình kết hôn, vợ chồng thường sẽ thống nhất và ký kết một thỏa thuận chấm dứt CĐTS theo Luật HNGĐ. Tuy nhiên, không có điều khoản cụ thể nào trong luật này quy định về việc chấm dứt CĐTS theo thỏa thuận. Chỉ có Điểm c Khoản 1 Điều 48 trong LHNGĐ 2014 nêu rõ về nội dung cơ bản của thỏa thuận chấm dứt CĐTS, bao gồm các điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt CĐTS. Thứ hai, nếu nội dung thỏa thuận CĐTS của vợ chồng bị vô hiệu hoàn toàn thì CĐTS của vợ chồng sẽ quay về CĐTS luật định, khi đó CĐTS theo thỏa thuận chấm dứt. CĐTS của vợ chồng vô hiệu khi: Không tuân thủ các điều kiện về hiệu lực của giao dịch theo quy định của BLDS và các quy định của luật khác có liên quan. Thứ ba, khi mối quan hệ hôn nhân của vợ chồng kết thúc, CĐTS theo thỏa thuận cũng không còn tồn tại nữa. Việc lựa chọn CĐTS theo thỏa thuận là một điều cần thiết trong quan hệ hôn nhân. Nó giúp tránh những tranh cãi và căng thẳng phát sinh khi quan hệ hôn nhân kết thúc và đảm bảo sự công bằng cho cả hai bên.
3.1. Chấm Dứt Do Thỏa Thuận Ly Hôn hoặc Một Bên Qua Đời
Có nhiều căn cứ chấm dứt chế độ tài sản theo thỏa thuận. Thứ nhất, vợ chồng có thể thỏa thuận chấm dứt chế độ tài sản. Thứ hai, chế độ tài sản chấm dứt khi vợ chồng ly hôn. Thứ ba, chế độ tài sản chấm dứt khi một trong hai người qua đời. Khi đó, tài sản sẽ được chia theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế. Cụ thể, theo Khoản 1 Điều 57 LHNGĐ năm 2014 quy định ly hôn là một trong những căn cứ để chấm dứt quan hệ vợ chồng, quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tại khoản 1 Điều 59 Luật này thì trong trường hợp vợ chồng lựa chọn CĐTS theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn sẽ được áp dụng theo thỏa thuận này, quy định này cũng được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.
3.2. Hậu Quả Pháp Lý Khi Chấm Dứt Chế Độ Tài Sản Thỏa Thuận
Khi chế độ tài sản theo thỏa thuận chấm dứt, việc phân chia tài sản sẽ được thực hiện theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Nếu không có thỏa thuận, tòa án sẽ giải quyết việc phân chia tài sản theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và pháp luật về thừa kế. Điều này có thể gây ra nhiều tranh cãi giữa hai bên, đặc biệt là khi có sự khác biệt về quan điểm giá trị của tài sản.
IV. Thực Tiễn Áp Dụng Chế Độ Tài Sản Vợ Chồng Thỏa Thuận Hiện Nay
Ở Việt Nam, CĐTS theo thoả thuận giữa vợ và chồng được ghi nhận trong LHNGĐ hiện hành. Đã gần 8 năm kể từ khi quy định này có hiệu lực nhưng tình trạng áp dụng CĐTS theo thoả thuận của các cặp vợ chồng vẫn còn rất hạn chế. Rà soát thực tiễn giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng cho thấy hiện nay tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng được giải quyết chủ yếu trên cơ sở pháp lý là xác định quyền sở hữu. Các loại tranh chấp bao gồm: Tranh chấp về việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; tranh chấp về việc chia tài sản giữa vợ và chồng khi ly hôn; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu bằng bản cam kết hoặc văn bản thỏa thuận về việc chia tài sản của một bên vợ hoặc chồng; văn bản thỏa thuận về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
4.1. Tình Hình Tranh Chấp Và Giải Quyết Các Vụ Việc
Theo thống kê của ngành tư pháp, các vụ việc dân sự, đặc biệt là việc HNGĐ chiếm phần lớn các vụ việc mà Tòa án các cấp phải giải quyết. Có tới 90% các vụ việc HNGĐ là ly hôn, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là tranh chấp tài sản chung của vợ chồng. Trong những năm gần đây, ở nước ta xảy ra một số vụ ly hôn gây chú ý do các bên tranh chấp khối lượng tài sản lớn, trong đó có những vụ ly hôn có giá trị tài sản lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Ngày nay, ngày càng có nhiều gia đình Việt Nam phát triển kinh tế khi vợ chồng cùng nhau kinh doanh và sở hữu khối tài sản lớn. Vì vậy, việc hai vợ chồng cùng nhau xác lập CĐTS theo thỏa thuận là cần thiết, cần khuyến khích các cặp vợ chồng để giảm thiểu mâu thuẫn, rủi ro về tài sản khi hôn nhân kết thúc.
4.2. Phân Tích Bản Án Thực Tế Về Chế Độ Tài Sản Thỏa Thuận
Để minh họa cho việc giải quyết tranh chấp liên quan đến “Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản riêng của vợ chồng”, cần phải xác định rằng "Văn bản thỏa thuận tài sản riêng của vợ chồng" giữa ông Q và bà K, được lập vào ngày 19/6/2013 không thể được coi là "Thỏa thuận xác lập CĐTS của vợ chồng" vì lúc đó Luật HNGĐ năm 2014 chưa có hiệu lực. Do đó, không thể áp dụng các quy định của Luật HNGĐ năm 2014 về CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận để xác định hiệu lực của văn bản này. Mặt khác, mặc dù pháp Luật HNGĐ hiện hành không có các quy định về thỏa thuận tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, nhưng không có nghĩa là trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng không được phép thỏa thuận cam kết tài sản riêng của một bên. Khi xem xét thỏa thuận này, cần phải xem xét nguồn gốc của tài sản và tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà việc tuyên bố bằng văn bản về thỏa thuận, cam kết tài sản riêng của vợ chồng có hiệu lực hay không.
V. Hạn Chế và Bất Cập Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật
Do CĐTS này còn mới tại pháp luật Việt Nam nên những hạn chế, bất cập đều dựa trên kinh nghiệm của các nước trên thế giới cũng như quá trình tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tại Việt Nam. Theo BLDS 2015 quy định rằng “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.” Tuy nhiên, LHNGĐ 2014 quy định nếu lựa chọn CĐTS vợ chồng dựa trên thỏa thuận thì thỏa thuận đó phải được lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực, không quy định về hình thức là điều kiện tiên quyết cho hiệu lực của văn bản này. Việc thiết lập thỏa thuận về tài sản chung của vợ chồng được quy định trong Điều 47 của LNHGĐ 2014 chỉ tập trung vào các yếu tố liên quan đến hình thức và thời điểm của việc xác lập CĐTS.
5.1. Về Hình Thức và Điều Kiện Hiệu Lực Của Văn Bản Thỏa Thuận
Về hình thức văn bản thỏa thuận về tài sản chung của vợ chồng. CĐTS theo thỏa thuận trong hôn nhân này thực chất là GDDS có sự tham gia của vợ, chồng và bên thứ ba. Vì vậy, pháp luật HNGĐ cần bổ sung quy định về hình thức thỏa thuận CĐTS vợ chồng như là một điều kiện để chúng có hiệu lực, tăng tính chặt chẽ và tạo thuận lợi cho quá trình áp dụng. Trên thực tế, nó quy định và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và bên thứ ba.
5.2. Về Nội Dung Văn Bản và Bảo Vệ Quyền Lợi Các Bên
Dựa theo Khoản 2 của Điều 30 của LNHGĐ 2014 về quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng trong việc đáp ứng nhu cầu cần thiết trong gia đình, cũng như quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 15 của Nghị định 126/2014/NĐ-CP “khi vợ chồng không có tài sản chung, toàn bộ tài sản của vợ chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân sẽ thuộc sở hữu riêng của người sở hữu tài sản đó.” Tuy nhiên, những quy định như vậy dường như chưa phản ánh đúng truyền thống của HNGĐ Việt Nam và chưa đảm bảo tính áp dụng trong thực tế.
VI. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Pháp Luật Tài Sản
Thứ nhất, trên cơ sở thống nhất, việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân về CĐTS theo thỏa thuận sẽ được tăng cường. Tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức pháp luật về HNGĐ nói chung hay CĐTS theo thỏa thuận nói riêng có vai trò quan trọng trong việc định hướng, giúp mọi người nhận biết và thực hiện. Việc hiểu biết đúng pháp luật sẽ giúp mọi người có thể lựa chọn CĐTS phù hợp với hoàn cảnh, tình hình tài chính của mình. và điều chỉnh quan hệ tài sản trong hôn nhân. Đồng thời, giúp mọi người hiểu rõ, tuân thủ pháp luật và có được các quyền, lợi ích hợp pháp, góp phần hạn chế tranh chấp tài sản trong gia đình.
6.1. Tăng Cường Tuyên Truyền Phổ Biến Pháp Luật Cho Người Dân
Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục người dân về CĐTS theo thỏa thuận giữa vợ chồng là rất quan trọng. Vì vậy, trên cơ sở thỏa thuận, cần tăng cường, cập nhật hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và nỗ lực bồi dưỡng về pháp luật hôn nhân và gia đình nói chung và pháp luật về CĐTS theo thỏa thuận của vợ chồng. Ngoài việc giúp người dân hiểu đúng ý nghĩa của CĐTS theo thỏa thuận giữa vợ và chồng, thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến các hoạt động giáo dục pháp luật sẽ giúp người dân hiểu rõ những quy định của pháp luật như các điều kiện về nội dung, hình thức, sửa đổi, bổ sung thỏa thuận.
6.2. Nâng Cao Vai Trò và Chất Lượng Công Chứng Tư Pháp
Mong muốn nâng cao địa vị, vai trò và nghĩa vụ của công chức trong hệ thống tư pháp và hộ tịch. Để tăng hiệu quả thực hiện CĐTS theo thỏa thuận của vợ chồng, một trong những giải pháp quan trọng nhất là hoàn thiện các vai trò, nhiệm vụ và quy định pháp luật về tư pháp, hộ tịch. Việc công chứng thỏa thuận CĐTS là không thực sự cần thiết, vì nhiều vợ chồng có thể không lựa chọn thỏa thuận này. Vì vậy, giải pháp quan trọng và rất cần thiết là kết hợp việc đăng ký thỏa thuận về CĐTS của các bên với việc đăng ký kết hôn.