Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, chủ trương xã hội hóa một số hoạt động tư pháp và công tác thi hành án dân sự đã được xác định cụ thể tại Nghị quyết số 48/2005/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020" và Nghị quyết số 49/2005/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020". Thực tiễn công tác thi hành án dân sự trong nhiều năm đối mặt với tình trạng quá tải nghiêm trọng, lượng án tồn đọng lớn, trong khi bộ máy nhà nước chịu gánh nặng toàn bộ từ việc điều tra, thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản tố tụng cho đến tổ chức cưỡng chế thi hành án với nguồn ngân sách và biên chế có hạn. Nhằm giải quyết các bất cập này, mô hình Thừa phát lại đã được khôi phục, tổ chức thí điểm và từng bước mở rộng. Tuy nhiên, quá trình triển khai từ thực tiễn thí điểm bộc lộ nhiều khoảng trống pháp lý, thiếu đồng bộ trong cơ chế phối hợp liên ngành và nhận thức xã hội về chế định này còn hạn chế.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua các nhiệm vụ:

  1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về chế định Thừa phát lại trong thi hành án dân sự.
  2. Nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại trong giai đoạn thí điểm tại Việt Nam, đối chiếu với mô hình Thừa phát lại của một số quốc gia trên thế giới, qua đó làm rõ vai trò của Thừa phát lại trong hoạt động thi hành án dân sự.
  3. Phát hiện những khó khăn, vướng mắc và bất cập thực tiễn trong quá trình thực hiện hoạt động Thừa phát lại tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định pháp luật và quan hệ xã hội phát sinh liên quan đến tổ chức, hoạt động của Thừa phát lại trong thi hành án dân sự. Phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian tập trung vào thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam từ giai đoạn bắt đầu thí điểm (năm 2009) đến giai đoạn chính thức triển khai trên toàn quốc (từ năm 2016), kết hợp khảo cứu so sánh pháp luật của một số quốc gia có truyền thống chế định Thừa phát lại lâu đời như Pháp, Úc, Bỉ và Hoa Kỳ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận về xã hội hóa hoạt động tư pháp, quyền tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tự định đoạt của đương sự trong quan hệ pháp luật dân sự - tố tụng dân sự. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn kiện chỉ đạo được tác giả sử dụng làm căn cứ pháp lý trực tiếp bao gồm:

  • Các nghị quyết của Đảng và Quốc hội: Nghị quyết số 48/2005/NQ-TW, Nghị quyết số 49/2005/NQ-TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008, Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 và Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội.
  • Các văn bản quy phạm pháp luật: Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004; Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP; Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ; Thông tư số 03/2009/TT-BTP; Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN ngày 17/1/2014 của Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Công văn số 415/2011/BTP-TCTHA ngày 28/01/2011 của Bộ Tư pháp.
  • Các văn bản pháp luật lịch sử: Sắc lệnh số 90/SL ngày 10/10/1945, Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946, Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1959, Nghị định số 111/BTP-NĐ ngày 04/2/1950, Pháp lệnh Thi hành án dân sự các năm 1989, 1993, 2004; Pháp lệnh số 452592 ngày 02/11/1945 của Cộng hòa Pháp.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp lý luận pháp lý; phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy chế Thừa phát lại Việt Nam với quy chế Chấp hành viên, Thừa phát lại tại Pháp, Úc, Bỉ, Hoa Kỳ); phương pháp lịch sử - cụ thể (nghiên cứu quá trình phát triển của chế định qua các thời kỳ); phương pháp thống kê và phân tích dữ liệu thực tiễn dựa trên báo cáo thi hành án dân sự. Nguồn dữ liệu bao gồm số liệu thống kê chính thức của ngành thi hành án dân sự và các công trình khoa học đã công bố của các chuyên gia đầu ngành (Nguyễn Đức Chính, Vũ Hoài Nam, Nguyễn Văn Nghĩa, Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Hồng).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Thừa phát lại trong thi hành án dân sự

Chương này tập trung phân tích bản chất pháp lý, vai trò, lịch sử hình thành của Thừa phát lại và kinh nghiệm quốc tế:

  • Khái niệm và bản chất: Tác giả giải nghĩa từ nguyên Hán - Việt ("Thừa" là thừa ủy quyền/chuyển tải, "Phát" là phát ra/đưa đến, "Lại" là viên chức thực hiện lệnh). Thừa phát lại được định nghĩa là người đáp ứng đủ tiêu chuẩn luật định, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để thực hiện công việc tống đạt văn bản giấy tờ của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự. Bản chất của Thừa phát lại mang tính lưỡng tính: vừa là người hành nghề tự do, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, tự chịu trách nhiệm tài chính; vừa đại diện cho công quyền khi thực hiện các hành vi mang tính cưỡng chế và xác thực.
  • Tầm quan trọng của chế định: Xuất phát từ 3 yêu cầu căn bản: chủ trương xã hội hóa hoạt động tư pháp; yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; và giải quyết áp lực quá tải, án tồn đọng của công tác thi hành án dân sự.
  • Lịch sử chế định tại Việt Nam qua 4 giai đoạn:
    1. Giai đoạn 1945 - 1950: Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 90/SL tạm thời duy trì các quy định cũ không trái nguyên tắc độc lập, Thừa phát lại tiếp tục hoạt động song song cùng Ban Tư pháp xã (theo Sắc lệnh số 13).
    2. Giai đoạn 1950 - 1975: Ở miền Bắc, Sắc lệnh số 85/SL và Luật Tổ chức TAND 1960 chuyển toàn bộ việc thi hành án sang Thẩm phán và nhân viên chấp hành án của Tòa án, chấm dứt chế định Thừa phát lại. Ở miền Nam, Nghị định số 111/BTP-NĐ ngày 04/2/1950 duy trì chế định với 36 nhân sự (18 Thừa phát lại thực thụ và 18 Thư ký trưởng hữu thệ) phụ trách 4 nhóm nhiệm vụ: làm truyền phiếu, lục tống, thi hành bản án/công văn và công việc nội bộ Tòa án.
    3. Giai đoạn 1975 - 2009: Quản lý thi hành án chuyển từ Tòa án sang cơ quan thuộc Chính phủ (Bộ Tư pháp) từ năm 1993. Pháp lệnh Thi hành án dân sự 1989, 1993, 2004 chỉ giao quyền thi hành án cho Chấp hành viên nhà nước, tạo áp lực quá tải ngân sách và nhân lực.
    4. Giai đoạn 2009 đến nay: Triển khai thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số 24/2008/QH12, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP; mở rộng thí điểm ra 13 tỉnh, thành phố theo Nghị quyết số 36/2012/QH13, Quyết định số 510/QĐ-TTg, Nghị định số 135/2013/NĐ-CP; chấm dứt thí điểm và thực hiện chính thức toàn quốc từ ngày 01/01/2016 theo Nghị quyết số 107/2015/QH13.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Khảo sát quy chế Thừa phát lại tại Pháp (nghề tự do, sở hữu tước vị, có thẩm quyền độc quyền thi hành án, lập vi bằng, bán đấu giá động sản) và Úc (do Tòa án địa phương bổ nhiệm, hoạt động theo lệnh của Thẩm phán và chịu sự bảo vệ nghiêm ngặt của pháp luật khi thực thi công vụ).

Chương 2: Thực trạng pháp luật về Thừa phát lại trong thi hành án dân sự

Chương 2 phân tích quy chế pháp lý và 4 mảng hoạt động chuyên môn của Thừa phát lại:

  • Quy chế tiêu chuẩn và bổ nhiệm: Khác với Thẩm phán hay Chấp hành viên, Thừa phát lại không bắt buộc đào tạo tại trường chức danh tư pháp tập trung nhưng đòi hỏi tiêu chuẩn khắt khe: cử nhân luật, có thâm niên công tác pháp luật (nguyên Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên, Điều tra viên từ trung cấp trở lên), đạt kỳ sát hạch và phải tuyên thệ trước Tòa án.
  • Thực trạng 4 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn:
    1. Hoạt động tống đạt: Giúp cơ quan xét xử giải tỏa khối lượng khoảng 5 loại giấy tờ trong một vụ án (giấy tạm ứng án phí, giấy triệu tập, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án...) và từ 3 đến hơn 10 loại văn bản trong hoạt động thi hành án dân sự.
    2. Hoạt động lập vi bằng: Cung cấp nguồn chứng cứ hợp pháp theo Điều 79, Điều 81 Bộ luật Tố tụng dân sự và làm căn cứ áp dụng biện pháp bảo đảm theo Điều 66 Luật Thi hành án dân sự. Phạm vi lập vi bằng tập trung vào các trường hợp theo Công văn 415/2011/BTP-TCTHA (xác nhận hiện trạng nhà đất, giao hàng, đại hội cổ đông, vi phạm trên internet/báo chí...). Tác giả chỉ ra 2 bất cập lớn: (i) quy định người yêu cầu bắt buộc phải thỏa thuận với Trưởng văn phòng Thừa phát lại gây chậm trễ khi phát sinh sự kiện khẩn cấp; (ii) quy định vi bằng chỉ hợp lệ khi được đăng ký tại Sở Tư pháp trong thời hạn luật định làm hạn chế giá trị sử dụng tức thời của chứng cứ.
    3. Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án: Thẩm quyền trong và ngoài tỉnh nơi đặt văn phòng. Tác giả phân tích điểm nghẽn tại Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN: quy định tổ chức tín dụng có thời hạn 03 ngày làm việc để trả lời thông tin mà không có điều khoản bảo mật ngăn chặn tiết lộ, tạo kẽ hở cho người phải thi hành án kịp thời chuyển dịch, tẩu tán tài sản trước khi bị phong tỏa.
    4. Hoạt động tổ chức thi hành án: Thừa phát lại được trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định sơ thẩm của TAND cấp huyện nơi đặt văn phòng; bản án, quyết định phúc thẩm/giám đốc thẩm/tái thẩm của TAND cấp tỉnh đối với bản án sơ thẩm của TAND cấp huyện đó. Thừa phát lại có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm (Điều 66) và biện pháp cưỡng chế (Điều 71 Luật Thi hành án dân sự). Đối với cưỡng chế cần lực lượng bảo vệ, quy trình phải báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo Thi hành án dân sự cấp huyện và được Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự phê duyệt kế hoạch.
Chỉ tiêu thống kê ngành THADS Năm 2008 Năm 2009 Giai đoạn 01/10/2015 - 30/4/2016
Tổng số việc phải thi hành 645.826 việc 662.813 việc Hơn 230.749 việc chưa thi hành xong
Số việc thi hành xong 334.887 việc (đạt 51,79%) 354.490 việc (đạt 53,47%) Đang thụ lý giải quyết
Số tiền thụ lý / tồn đọng Án tồn đọng lớn Chuyển kỳ sau >17.000 tỷ đồng Tổng thụ lý 120.038 tỷ đồng (tăng >13.000 tỷ)
Quy mô bộ máy nhà nước (2009) - 63 cơ quan cấp tỉnh, 679 cơ quan cấp huyện; 7.991 cán bộ (2.448 Chấp hành viên) -

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế định pháp luật Thừa phát lại

Trên cơ sở nhận diện các khó khăn, vướng mắc trong giai đoạn chuyển giao từ thí điểm sang chính thức, chương này đưa ra các định hướng và nhóm giải pháp:

  • Định hướng: Tiếp tục thể chế hóa đường lối cải cách tư pháp của Đảng, hoàn thiện khung khổ pháp lý đồng bộ, phân định rõ phạm vi công quyền và dịch vụ tư, bảo đảm tính tự chủ nghề nghiệp và quyền tiếp cận dịch vụ pháp lý của công dân.
  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Sửa đổi thủ tục lập vi bằng: cho phép Thừa phát lại trực tiếp ký thỏa thuận và thực hiện lập vi bằng kịp thời mà không phụ thuộc vào sự có mặt của Trưởng văn phòng;
    • Bãi bỏ quy định hiệu lực của vi bằng phụ thuộc vào việc đăng ký tại Sở Tư pháp; chuyển sang cơ chế Văn phòng Thừa phát lại tự lưu trữ, Thừa phát lại tự chịu trách nhiệm pháp lý cá nhân về nội dung ghi nhận;
    • Sửa đổi Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN: bổ sung quy định ràng buộc trách nhiệm bảo mật tuyệt đối của các tổ chức tín dụng trong quá trình cung cấp thông tin, đồng thời thiết lập cơ chế phong tỏa tài khoản tạm thời ngay khi có văn bản xác minh để chống tẩu tán tài sản;
    • Mở rộng thẩm quyền thi hành án và chuẩn hóa quy trình cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng bảo vệ.
  • Kiến nghị tổ chức thực hiện: Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa Văn phòng Thừa phát lại với Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan Thi hành án dân sự, Công an và các cơ quan đăng ký tài sản; đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức xã hội; thành lập tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Thừa phát lại và xây dựng chương trình đào tạo chuyên môn bài bản.

Kết quả và đóng góp

  • Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định Thừa phát lại, chứng minh tính tất yếu khách quan của việc xã hội hóa thi hành án dân sự thông qua số liệu thực tế về tình trạng quá tải án tồn đọng (năm 2008 tồn chuyển sang 2009 là 320.124 việc; năm 2009 tồn đọng chuyển kỳ sau hơn 17.000 tỷ đồng; đến tháng 4/2016 còn tồn đọng hơn 230.749 việc với số tiền 120.038 tỷ đồng).
  • Tác giả phân tích chuyên sâu 4 trụ cột nghiệp vụ của Thừa phát lại (tống đạt, lập vi bằng, xác minh tài sản, tổ chức thi hành án), chỉ ra các điểm mâu thuẫn giữa quy định tại Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Nghị định số 135/2013/NĐ-CP với thực tiễn tố tụng.
  • Công trình đóng góp hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể, nổi bật là đề xuất bãi bỏ thủ tục đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp và đề xuất cơ chế chống tẩu tán tài khoản ngân hàng trong hoạt động xác minh điều kiện thi hành án.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn dữ liệu thống kê tổng hợp mới tại thời điểm nghiên cứu, các phân tích định lượng chủ yếu khai thác dữ liệu giai đoạn thí điểm (2008 - 2015) và số liệu đầu năm 2016.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá toàn diện hiệu quả thực thi Nghị quyết số 107/2015/QH13 khi áp dụng trên quy mô toàn quốc; nghiên cứu xây dựng dự án Luật Thừa phát lại độc lập; hoàn thiện chế định bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại.

Giá trị tham khảo

  • Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Tố tụng Dân sự và Quản lý tư pháp.
  • Nội dung chương 1 và chương 2 có giá trị ứng dụng cao cho Thừa phát lại, Thư ký nghiệp vụ, Chấp hành viên và Luật sư khi nghiên cứu về kỹ năng lập vi bằng, xác minh tài sản và quy trình tổ chức thi hành bản án dân sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Chế định Thừa phát lại tại miền Nam Việt Nam giai đoạn 1950 - 1975 được tổ chức với quy mô và nhiệm vụ như thế nào? Theo Nghị định số 111/BTP-NĐ ngày 04/2/1950, miền Nam có 36 nhân sự gồm 18 Thừa phát lại thực thụ và 18 Thư ký trưởng hữu thệ, đảm nhiệm 4 công việc: làm truyền phiếu; làm việc lục tống; thi hành bản án, công văn; và thực hiện công việc nội bộ trong các Tòa án. Tại các địa phương không có văn phòng, Cảnh sát trưởng hoặc Quận trưởng tạm thời kiêm nhiệm.

2. Vì sao tác giả kiến nghị bãi bỏ quy định vi bằng chỉ có giá trị khi đăng ký tại Sở Tư pháp? Quy định vi bằng chỉ hợp lệ khi được đăng ký tại Sở Tư pháp (trong thời hạn 3 ngày gửi và 2 ngày vào sổ) khiến vi bằng không phát sinh giá trị pháp lý ngay tại thời điểm lập. Điều này gây khó khăn cho đương sự khi cần sử dụng chứng cứ tức thì để bảo vệ quyền lợi và không thể kiểm soát được tiến độ đăng ký của văn phòng Thừa phát lại.

3. Hoạt động xác minh tài khoản ngân hàng của Thừa phát lại theo Thông tư liên tịch 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN gặp kẽ hở pháp lý nào? Thông tư cho phép tổ chức tín dụng thời hạn 03 ngày làm việc để cung cấp thông tin nhưng không quy định nghĩa vụ bảo mật thông tin xác minh đối với khách hàng và không có cơ chế phong tỏa khẩn cấp, dẫn đến nguy cơ ngân hàng thông báo cho người phải thi hành án tẩu tán tài sản trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế.

4. Thừa phát lại có thẩm quyền trực tiếp tổ chức thi hành những loại bản án, quyết định nào? Theo Nghị định 61/2009/NĐ-CP và Nghị định 135/2013/NĐ-CP, Thừa phát lại có thẩm quyền thi hành theo đơn yêu cầu đối với: bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực của TAND cấp huyện nơi đặt văn phòng; bản án, quyết định phúc thẩm của TAND cấp tỉnh đối với bản án sơ thẩm của TAND cấp huyện đó; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của TAND cấp tỉnh đối với bản án đã có hiệu lực của TAND cấp huyện nơi đặt văn phòng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Duy Anh đã làm rõ cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử và thực trạng pháp luật về chế định Thừa phát lại trong thi hành án dân sự tại Việt Nam. Công trình chỉ rõ những bất cập về quy trình lập vi bằng, xác minh tài sản và tổ chức thi hành án trong giai đoạn thí điểm, đồng thời khẳng định vai trò trọng tâm của Thừa phát lại trong chiến lược xã hội hóa tư pháp. Hệ thống kiến nghị được đề xuất trong khóa luận cung cấp các luận cứ khoa học thiết thực cho việc tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý khi chế định Thừa phát lại được vận hành chính thức trên toàn quốc.