Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Thừa phát lại trong thi hành án dân sự Chương 2: Thực trạng pháp luật về Thừa phát lại trong thi hành án dân sự Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế định pháp luật Thừa phát lại 7 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỪA PHÁT LẠI TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Luận về Thừa phát lại trong Thi hành án dân sự 1. Khái niệm về Thừa phát lại Thừa phát lại là một nghề cổ xưa, xuất hiện ngay từ thời La mã cổ đại. Như sẽ phân tích ở phần sau của khoá luận, Thừa phát lại có hai chức năng chính: tống đạt văn bản và thi hành án [32], chế định Thừa phát lại xuất hiện trong lịch sử xoay quanh việc thực hiện hai chức năng này, tách biệt hay nhập lại hai chức năng này vào thẩm quyền của người làm nghề Thừa phát lại.
Ban đầu, thời La Mã cổ đại, Thừa phát lại là những người được gọi là "officiales" được các Quan tòa sử dụng để thực hiện hai chức năng là gìn giữ trật tự tại phiên tòa và kê biên tài sản của những con nợ chây ỳ hoặc đưa những người đó vào tù. Như vậy, ở thời kỳ này, nhiệm vụ chủ yếu của Thừa phát lại là nhiệm vụ thi hành án. Đến thời Trung cổ, những người thực hiện các chức năng ở trên được chia thành "Sergent" - là những người chủ yếu làm nhiệm vụ tống đạt văn bản, thi hành án và "Huissier" - dịch sang tiếng Việt là Thừa phát lại, là những người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự tại phiên tòa. Đến năm 1705, hai chức năng của "Sergent" và "Huissier" được tập trung lại và giao cho một người duy nhất thực hiện là Thừa phát lại [30, tr.
Cho đến thời điểm 1705, nhiệm vụ của người làm nghề Thừa phát lại vẫn bao gồm tống đạt văn bản, thi hành án và bảo vệ trật tự tại phiên toà. Từ thời điểm đó, chế định Thừa phát lại tiếp tục được duy trì, phát triển và nhân rộng. Nói đến việc phát triển và nhân rộng mô hình Thừa phát lại, không thể không nhắc đến vai trò của Pháp - quốc gia khởi nguồn của chế định này. Ở Pháp, các Thừa phát lại, thông qua Liên minh Quốc tế các Thừa phát lại, Nhân viên tư pháp, Hội đồng Thừa phát 8 lại Quốc gia và Trường Tố tụng quốc gia cùng các đồng nghiệp châu Âu đã góp phần quảng bá, phổ biến pháp luật Pháp, pháp luật châu Âu và đặc biệt là các vấn đề có liên quan đến Thừa phát lại đến các quốc gia khác trên Thế giới.
Điều 1 Pháp lệnh số 452592 ngày 02/11/1945 quy định thẩm quyền theo nội dung của Thừa phát lại và tổ chức nghề Thừa phát lại tại Pháp quy định: Thừa phát lại là người sở hữu một tước vị, có độc quyền trong việc tống đạt văn bản và văn bản tố tụng, tiến hành các thủ tục thông báo được pháp luật quy định trong trường hợp không quy định rõ phương thức thông báo, và thi hành các bản án, quyết định của tòa án và các văn bản có hiệu lực thi hành khác. 56] Nối tiếp sự phát triển của chế định Thừa phát lại tại Pháp, đồng thời nhìn nhận được những ưu điểm của chế định tiến bộ này đem lại cho công tác thi hành án, một loạt các nước châu Âu khác như Anh, Hà Lan, Luých-xăm-bua, xứ Galles, Bỉ, Ê-cốt, Hy Lạp đều quy định về Thừa phát lại như một nghề độc lập. Trên thế giới, mô hình Thừa phát lại được thừa nhận rộng rãi, tuy nhiên ở mỗi một quốc gia lại có sự khác biệt nhất định về chế định này. Ở một số quốc gia như Áo, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đan Mạch,.
không có một quy chế riêng được định danh là Thừa phát lại, tuy nhiên, chấp hành viên ở các nước này có những nhiệm vụ tương tự như Thừa phát lại. Theo đó, chấp hành viên là công chức nhưng dường như cũng hoạt động theo phương thức nghề tự do, cụ thể như sau: (i) Chấp hành viên độc lập với Tòa án; (ii) Chấp hành viên chịu trách nhiệm về tài chính, nghề nghiệp và kỷ luật; (iii) Nhà nước không trả lương dưới bất cứ hình thức nào cho những người hành nghề độc lập này. Trong khi đó, ở một số nước châu Phi, Thừa phát lại cũng có quy chế nghề tự do và độc lập, có cơ cấu tổ chức giống như ở Pháp và các nước châu Âu khác. Không chỉ ở các nước theo khối tư bản chủ nghĩa, sự tiến bộ của chế định Thừa phát lại cũng được thừa nhận tại các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa trước đây [34, tr.
Đối với các nước này, quan niệm về một nhà nước tập quyền nắm quyền quản lý tất cả mọi mặt trong xã hội cuối cùng cũng đã phải lùi bước trước xu thế xã hội hoá, kinh tế thị trường mà trong đó, xã hội hoá công tác thi hành án với sự ra đời của chế định Thừa 9 phát lại là một khía cạnh. Các quốc gia như Hungary, Etsx-tô-ni, Slovennia, Ba Lan, Slovakia, Lét-tô-ni, Lít-tua-ni, Cộng hòa Séc cùng nhiều nước Trung Âu khác, sau sự sụp đổ của liên bang Xô-viết, chuyển mình phát triển theo mô hình tự do, đã thừa nhận Thừa phát lại là nghề tự do, độc lập với quyền lực Nhà nước. Theo đó, người làm công tác Thừa phát lại có thể lựa chọn việc tống đạt văn bản cùng với việc thông báo bằng đường bưu điện, tuy nhiên, với những văn bản giấy tờ quan trọng như quyết định thi hành án, giấy triệu tập thì bắt buộc phải tống đạt để đảm bảo đương sự nhận được những văn bản đó. Một nhiệm vụ cũng rất quan trọng của Thừa phát lại đó là lập vi bằng.
Ở Lít-tua-ni, Hungary, Ba Lan, Etsx-tô-ni, vi bằng là một loại văn bản được lập bởi Thừa phát lại, ghi nhận bằng chứng về thoả thuận giữa các bên, vi bằng được xem như là bằng chứng hợp pháp trước toà. Công việc của Thừa phát lại ở các nước trên thế giới là công việc độc quyền, chỉ Thừa phát lại mới được làm. Ngoài ra, Thừa phát lại ở các nước còn được tiến hành các hoạt động tư pháp khác như đấu giá tài sản, đại diện khách hàng, hòa giải. Ở Việt Nam, Thừa phát lại là khái niệm xuất hiện từ thời Pháp thuộc, Thừa phát lại không phải là viên chức, không hưởng lương từ Ngân khố Quốc gia, hoạt động không theo chế độ công vụ.
Do được quy định ở các văn bản pháp luật khác nhau nên trước đây Thừa phát lại ở nước ta được gọi theo những tên gọi khác nhau theo từng miền như Chưởng tòa (Miền Bắc), Mõ tòa (Miền Trung) và Thừa phát lại (Miền Nam) [28]. Thừa phát lại là một từ Hán - Việt: Thừa có nghĩa là thừa ủy quyền, thừa lệnh (nguyên nghĩa là chuyển tải); phát nghĩa là phát ra, đưa đến; lại là một viên chức thực hiện lệnh của quan. Còn theo quy định của pháp luật hiện hành mà cụ thể là Nghị định 61/2009/NĐ-CP, "Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan" [14]. Thừa phát lại được tham gia những công việc mang tính chất hỗ trợ Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự tống đạt các văn bản giấy tờ và các hoạt động thi hành án.
Qua các khảo cứu sơ lược như ở trên, có thể thấy rằng, về phạm vi hoạt động, người làm công tác Thừa phát lại ở Việt Nam có phạm vi hoạt động bó hẹp hơn so với 10 thế giới. Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng ở Việt Nam, đây là một chế định còn non trẻ và cần thời gian để hoàn thiện. Tóm lại, bỏ qua những khác biệt về quy định lập pháp giữa các quốc gia khác nhau do cách tiếp cận về chế định Thừa phát lại khác nhau, chế định Thừa phát lại trên thế giới, nhìn chung, có những đặc điểm như sau: + Thừa phát lại là một nghề tự do, người hành nghề Thừa phát lại không phải là công chức, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, hoạt động không theo chế độ công vụ nhưng khi thực hiện một số công việc nhất định lại có quyền như những cán bộ, công chức. Vì vậy, chế định Thừa phát lại được xem là chế định nhằm mục đích xã hội hoá công tác thi hành án; + Tuy không phải là công chức, Thừa phát lại phải là người đạt đủ các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để thực hiện một số công việc theo quy định của pháp luật.
Điều này bắt nguồn từ thực tế mặc dù là chế định tư, nhưng hoạt động của Thừa phát lại mang nhiều yếu tố cưỡng chế của tính công quyền, ví dụ như trong quá trình tống đạt, thi hành án; do đó, Thừa phát lại cần có một quy chế quản lý nghiêm ngặt; + Thừa phát lại thực hiện các công việc chủ yếu như: Tống đạt văn bản, giấy tờ và thi hành án; + Thừa phát lại hoạt động tuân theo những nguyên tắc về quy chế hoạt động, đạo đức nghề nghiệp mà pháp luật quy định, chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, từ những kết quả nghiên cứu trên có thể rút ra khái niệm về Thừa phát lại như sau: Thừa phát lại là người đáp ứng đủ các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để thực hiện công việc tống đạt các văn bản, giấy tờ của Tòa án, Cơ quan thi hành án; lập vi bằng; trực tiếp thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án và các công việc khác theo quy định của pháp luật. Bản chất của Thừa phát lại Là một chế định mới trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Thừa phát lại vẫn chưa phải là một khái niệm quen thuộc, không chỉ đối với những người bình thường mà còn đối với cả những người nghiên cứu về pháp luật [27]. Tuy nhiên, với thực tế rằng, kể từ năm 2009 khi chế định pháp luật về Thừa phát lại được khôi phục tại Việt Nam đến nay, Thừa phát lại (Thừa hành viên) ngày càng trở nên quen thuộc, các dịch vụ pháp lý liên quan đến các công tác thi hành án dân sự mà Thừa phát lại cung cấp dần trở thành lựa chọn tối ưu cho các khách hàng.