Chương I: Một số vấn đề chung về án treo Chương II: Nội dung cơ bản của án treo trong luật hình sự Việt Nam Chương III: Thực tiễn áp dụng án treo và những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cua án treo Kết luận Án treo trong luật hình sự Việt Nam. CHUONG | MOT SO VAN DE CHUNG VE AN TREO |. KHÁI NIEM, BAN CHAT PHAP LÍ VA Ý NGHĨA CUA AN TREO TRONG LUAT HINH SU VIET NAM 1. Khái niệm về án treo Bất kì tội phạm nào cũng có các dấu hiệu: Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự gắn liền với tính chịu hình phạt.
Một hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm đòi hỏi phải quy định những loại và mức hình phạt tương xứng cho hành vi đó. Quan niệm về hình phạt gắn liền với quan niệm về tội phạm. Tội phạm càng nghiêm trọng thì hình phạt càng nghiêm khắc. Sự đa dạng về hành vi phạm tội thể hiện ở tính nguy hiểm cho xã hội của nó đặt ra yêu cầu: Một mặt phải đa dạng, phong phú về loại và mức hình phạt.
Mặt khác, cần phải quy định biện pháp tác động hình sự khác đối với người phạm tội. Những yêu cầu này là điều kiện quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện các nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt, nhân đạo XHCN và công bằng. Sự quy định trong luật là căn cứ pháp lí chặt chế cho việc áp dụng pháp luật một cách thống nhất trong đấu tranh xử lí tội phạm đạt hiệu quả. Một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hiệu quả đạt được của việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội là sự hoàn trả cho xã hội con người đã trở nên vô hại, không còn nguy cơ tái phạm.
Vì vậy, trong một số trường hợp nhất định, có tác dụng cải tạo, giáo dục người bị phạt tù tốt hơn nếu tòa án áp dụng biện pháp tác động hình sự khác, không cần bắt bị cáo phải thụ hình. Án treo là biện pháp tác động hình sự được hình thành ngay từ những ngày đầu Án treo trong luật hình sự Việt Nam mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và nay được quy định tại Điều 44 BLHS nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Khi xu phạt tu không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm. Tòa án giao người bị án treo cho cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để theo dõi, giáo dục. Người bị án treo có thể phải chịu thêm một số hình phạt bổ sung như phạt tiên, cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định quy định ở Điều 23 và Điều 28.
Nếu ngời bị án treo đã chấp hành được một nửa thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo dé nghị của co quan, tổ chức có trách nhiệm theo đối, giáo dục, tòa án có thể rút ngắn thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách, người bị án treo phạm tội mới do vô ý và bị phạt ti hoặc phạm tội mới do cố ý thì tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định ở khoản 2 Điều 42." Thực chất, án treo là biện pháp không buộc người bị phạt tù phải cách li khỏi xã hội. Họ được tự cải tạo, giáo dục ở môi trường xã hội trong thời gian thử thách nhất định, với sự giám sát của cơ quan hoặc chính quyền địa phương. Hình phat tù đã tuyên sẽ "treo lo lửng"° trên đâu người phạm tội bởi điều kiện răn đe trong thời gian thử thách.
Người phạm tội không vi phạm điều Xem: Wilfrid Jeandidier: Luật hình sự; Nxb. 499 - 500 10 Án treo trong luật hình sự Việt Nam kiện của án treo trong thời gian thử thách, chứng tỏ họ đã trở thành người lương thiện nên họ không phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên. Biện pháp tác động hình sự này là cần thiết, nó thể hiện rõ phương châm “trừng trị kết hợp với cdi tạo, giáo duc" trong chính sách hình sự của Nhà nước ta về xử lí người phạm tội. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: dn treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tu có điêu kiện được áp dụng đối với người bị phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phat ta.
Bản chất pháp lí của án treo theo luật hình sự Việt Nam 2 @ nước ta, quá trình hình thành và phát triển của chế định án treo gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của pháp luật hình sự nói chung. Bản chất pháp lí của án treo cũng được nhận thức khác nhau ở từng giai đoạn. Văn bản pháp luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta quy định về án treo là Sắc lệnh số 21/SL ngày14/12/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về " Tổ chức toà án quân sự". Điều 10 Sắc lệnh này quy định: "Khi phạt tù, toà án có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lí do đáng khoan hông.
Bản án xử treo sẽ tạm đình chỉ việc thi hành án. Nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị toà án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới thì bản án đã tuyên sẽ hủy di, coi như không có. Nếu trong 5 năm ấy, tội nhân lại bị kết án một lần nữa trước một toà án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành ? (1).Xem: Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18/10/1990 của Hội đồng thẩm phán TANDTC (2).Xem: Công báo năm 1946; số 9; tr. 11 Án treo trong luật hình sự Việt Nam Như vậy, theo Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL, án treo được xác định là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có_ điêu kiện.
Án treo chỉ áp dung đối với hình phạt tù. Theo tinh thần quy định của Sắc lệnh số 21/SL thì cách tuyên trong bản án của tòa án xét xử người phạm tội cho hưởng án treo sẽ là: Trước hết, tòa án tuyên một hình phạt tù tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, rồi tuyên cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm. thi thach Diéu kiện/của án treo được xác định bởi sự đe dọa phạm tội mới trong thời gian thử thách. Nếu không vi phạm điều kiện này thì bản án đã tuyên "coi như không co".
Nội dung của quy định tại Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL có hiệu lực áp dụng trong công tác xét xử của tòa án cho đến khi Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành (hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1986). Tuy nhiên, theo chúng tôi có thể đưa ra một vài nhận xét như sau: - Quy định về án treo theo Điều 10 Sắc lệnh số 21/S1 có phần cứng nhắc, chưa phù hợp với yêu cầu của nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm hình sự. Điều luật chỉ nêu là "có lý do đáng khoan hồng" nhưng không nêu cụ thể về lý do đáng khoan hồng. Điều này đã gây nên những khó khăn trong khi quyết định cho người bị phạt tù được hưởng án treo (vì không quy định những mức cụ thể của hình phat tù có thể cho hưởng ấn treo).
- Thời gian thử thách được quy định cứng là 5 năm không phụ thuộc vào mức hình phạt tù cho hưởng án treo. Vì thế, trong thực tiễn xét xử đã có những lầm 14m, khi vận dụng án treo. Chang hạn, có trường hợp đáng cho hưởng án treo thì tòa án lại xử phạt tù, không cho hưởng án treo. Ngược lại, có những vụ án mà người phạm tội đáng lẽ phải bị xử phạt tù, không nên cho họ được hưởng án treo thì tòa án lại cho họ được hưởng án treo.
12 Án treo trong luật hình sự Việt Nam Ví dụ: "L.L đánh vợ gây thương tích nhưng chưa gây tác hại nghiêm trọng, bản chất can phạm tốt, phạm tội lan đâu, thái độ biết ăn năn hối cải, nguoi vợ có đơn xin khoan hông. Toà sơ thẩm đã xử 6 tháng tù, sau phúc thấm cai thành 6 tháng án treo"? hoặc "7.H giáo viên vỡ lòng, hiếp dâm em bé 7 tuổi, vì tòa án cho đây là hành động nhất thời trong lúc vợ y đang ở thời kỳ sinh để nên phat I năm tù treo mà không thấy hết tính chất nghiêm trọng và ảnh hưởng xấu đã gây nên do tu cách đặc biệt của can phạm là một giáo viên vỡ lòng) Mặc dù vậy, ở giai đoạn này, để bảo đảm cho việc áp dụng án treo của các tòa án được đúng đắn, Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể. Đó là: - Thông tư số 2308/NCPL ngày 1/12 /1961 về việc áp dụng chế độ án treo. Văn bản này đã sơ bộ đánh giá việc áp dụng án treo trong thực tiễn, trên cơ sở đó nêu lên ý nghĩa của án treo, xác định bản chất pháp lí của án treo, hướng dẫn cụ thể về điều kiện và phạm vi áp dụng án treo, hiệu lực cũng như thủ tục áp dụng án treo.
Thông tư này đã hướng dẫn nhận thức án treo là "mét biện pháp hoãn thụ hình có điều kiện". Về mặt lí luận, hoãn thụ hình là khái niệm pháp lí có nội dung là: Bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án do tòa án đã tuyên nhưng do họ có điều kiện, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không thể chấp hành được hình phạt nên được hoãn thu hình (như bị ốm đau, bệnh tật, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng). Hoãn thụ hình là thủ tục tố tụng ở giai đoạn thi hành án.” Còn án treo, sau khi phân tích các tinh tiết của vụ án với khả năng tự cải tạo, giáo dục của người phạm tội, tòa án đi đến kết luận là không cần cách li (1); (2); (3). Xem: Hệ thống hoá luật lệ về hình sự; năm 1975;Tập J, tr.Xem: Điều 231, Điều 232 Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Án treo trong luật hình sự Việt Nam bị cáo khỏi xã hội, sau khi đã tuyên một hình phạt tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội.