Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn các tỉnh duyên hải miền Trung" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phùng Anh Dũng, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Văn Độ. Công trình được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2023, thuộc chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, mã số đào tạo 9.04.

+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN ĐỊNH DANH LUẬN ÁN                                                                        |
+----------------------+-----------------------------------------------------------------------------+
| Tên đề tài           | Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp theo pháp luật hình sự Việt Nam          |
|                      | từ thực tiễn các tỉnh duyên hải miền Trung                                  |
| Tác giả              | Phùng Anh Dũng                                                              |
| Người hướng dẫn      | PGS. Trần Văn Độ                                                            |
| Cơ sở đào tạo        | Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam            |
| Ngành đào tạo        | Luật Hình sự và Tố tụng hình sự                                             |
| Mã số chuyên ngành   | 9.04                                                                        |
| Năm hoàn thành       | 2023                                                                        |
+----------------------+-----------------------------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hoạt động tư pháp là một dạng hoạt động đặc thù của Nhà nước nhằm mục đích bảo vệ công lý, giữ gìn trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân. Những hành vi xâm phạm trực tiếp đến sự đúng đắn của hoạt động tư pháp gây ra thiệt hại cho quá trình thực thi công lý và làm suy giảm niềm tin của xã hội đối với cơ quan tư pháp. Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 đã quy định nhóm tội này tại Chương XXIV (từ Điều 367 đến Điều 391).

Tại địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung, tình hình tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp có diễn biến phức tạp. Điển hình là các vụ án nghiêm trọng như vụ án dùng nhục hình dẫn đến hậu quả nạn nhân Ngô Thanh Kiều tử vong tại Phú Yên, hay vụ án bức cung, dùng nhục hình dẫn đến việc ông Huỳnh Văn Nén bị kết án oan sai và chấp hành hình phạt tù gần 17 năm. Theo Báo cáo công tác năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố khu vực duyên hải miền Trung:

  • Tỷ lệ khởi tố án hình sự nói chung tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2020 (mức tăng của toàn quốc là 3,1%).
  • Số vụ án về chức vụ và xâm phạm hoạt động tư pháp tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước (tỷ lệ tăng tương ứng của toàn quốc là 6,1%).

Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với nhóm tội này còn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Cụ thể, việc định tội danh đối với hành vi dùng nhục hình làm chết người chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng: một số quan điểm cho rằng chỉ xử lý về tội Dùng nhục hình, trong khi quan điểm khác truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về cả hai tội (tội Dùng nhục hình và tội Giết người hoặc tội Cố ý gây thương tích). Bên cạnh đó, một số hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa được tội phạm hóa, mức chế tài giữa phần chung và phần các tội phạm cụ thể còn mâu thuẫn, và nhận thức lý luận của một bộ phận người tiến hành tố tụng chưa đầy đủ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ nhận thức lý luận về nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp, đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tiễn.

Luận án thực hiện 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về tội xâm phạm hoạt động tư pháp và cơ sở lý luận của việc quy định TNHS đối với nhóm tội này trong luật hình sự.
  2. Nghiên cứu so sánh quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong pháp luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam.
  3. Khái quát lịch sử và phân tích thực trạng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
  4. Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hình sự hiện hành về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp tại địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010 - 2021, xác định những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
  5. Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hình sự Việt Nam và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học về tội xâm phạm hoạt động tư pháp; các quy định pháp luật hình sự Việt Nam và một số quốc gia; thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hình sự tại địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung.
  • Phạm vi nội dung: Dấu hiệu pháp lý, trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp và thực tiễn xử lý hình sự đối với nhóm tội phạm này.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát, thu thập và phân tích số liệu áp dụng pháp luật hình sự từ năm 2010 đến năm 2021.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực tiễn tại 8 tỉnh, thành phố thuộc khu vực duyên hải miền Trung, gồm: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

Tác giả luận án đã phân tích và tổng thuật các công trình nghiên cứu quốc tế liên quan đến nhóm tội phạm chống lại hoạt động tư pháp:

  • Andrii R. Popovych và nhóm tác giả (2020), bài viết "Crimes against Justice under the Legislation of the States of the European Union" trên tạp chí International Journal of Criminology and Sociology, phân tích quy định pháp luật của các nước Liên minh Châu Âu (Latvia, Lithuania, Romania, Slovenia, Cộng hòa Séc, Tây Ban Nha, Đức, Hà Lan, Đan Mạch) so sánh với Ukraina.
  • Nhóm luật sư bào chữa bang Nevada, Hoa Kỳ, bài viết "Nevada Defense lawyer explains crimes against public justice", phân tích các hành vi hối lộ cán bộ tư pháp, khai man, đe dọa bồi thẩm đoàn, cản trở điều tra và hành vi ra bản án trái pháp luật của thẩm phán.
  • Sinelnikov, công trình "Criminological aspects of crimes against public justice committed by prosecution authorities office holders", tiếp cận góc độ tội phạm học đối với các tội phạm do công tố viên thực hiện, chỉ ra nguyên nhân từ môi trường nghề nghiệp, trình độ văn hóa pháp lý và sự thiếu kiểm soát.
  • Trường Đại học Glasgow (University of Glasgow, 2019), bài viết "The Scottish Criminal Justice System", phân tích các hành vi xâm phạm tư pháp do nhân viên tư pháp thực hiện tại Scotland giai đoạn 2016 - 2018 (nhận hối lộ, tiêu hủy hồ sơ, bức cung, dùng nhục hình).
  • Srishti John (2020), công trình "Offences against Public Justice", phân tích Chương XI (Điều 201 đến Điều 229A) Bộ luật Hình sự Ấn Độ, tập trung vào tội tiêu hủy hoặc làm sai lệch chứng cứ và tội cung cấp thông tin sai sự thật.
  • Marta Burczycka và Christopher Munch (2015), bài viết "Trends in offences against the administration of justice" (Nxb Juristat), phân tích số liệu thống kê tội phạm chống lại tư pháp tại Canada từ năm 2004 đến năm 2015.
  • Ủy ban Cải cách Pháp luật Úc (Australian Law Reform Commission, 2010), báo cáo "Public justice offences", nghiên cứu các hành vi can thiệp vào hoạt động tư pháp và vấn đề đồng phạm.
  • Trường Luật Yale (Yale Law School, 2008), sách chuyên khảo "Blackstone's Commentaries on the Laws of England", bình luận lịch sử phát triển các tội chống lại công lý từ thế kỷ 15 đến nay tại Anh.
  • Stephen A. Diamond, Kit Kinports và Thomas H. Morawetz (1994), sách chuyên khảo "Criminal Law" (The Michie Company), phân tích lý luận tội phạm hóa và dấu hiệu pháp lý của các hành vi cản trở tư pháp.
  • GS.TSKH. P. chủ biên (2005), giáo trình "Расследование преступления" (Điều tra hình sự) của Đại học Tổng hợp Quốc gia Mátxcơva mang tên Lômônôxôp, trình bày chiến thuật và phương pháp điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp theo luật hình sự Liên bang Nga.
  • Các ấn phẩm khác như: Springer Verlag (2012), Larry J. Siegel (2002), John Pearson (2011), M. Umbreit (2005), Augustine Brannigan và Zhiqiu Lin (1999).

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, các công trình khoa học được tác giả phân loại theo từng nhóm:

  • Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ:
    • Nguyễn Tất Viễn (1996), Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong luật hình sự Việt Nam, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Luật học. Đây là công trình toàn diện đầu tiên nghiên cứu nhóm tội này dựa trên BLHS năm 1985 và số liệu giai đoạn 1986 - 1995.
    • Nguyễn Huy Hoàn (2005), Đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học (khảo sát giai đoạn 1988 - 2004).
    • Nguyễn Thị Diệu Trang (2015), Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ (khảo sát giai đoạn 2010 - 2014 theo BLHS 1999).
    • Nguyễn Thị Thu Trang (2012), Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ.
    • Nguyễn Thị Hoàng Yến (2006), Đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, Luận văn thạc sĩ (khảo sát giai đoạn 2000 - 2005).
    • Lê Chí Trung (2018), Nhân thân người phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp, Luận văn thạc sĩ (khảo sát giai đoạn 2013 - 2017).
    • Các luận văn nghiên cứu từng tội danh cụ thể: Bùi Đức Bằng (2013 - Tội ra bản án trái pháp luật); Phạm Thị Mai Anh (2015 - Tội che giấu tội phạm); Nguyễn Thị Thu Huyền (2016 - Tội không chấp hành án); Trần Thị Hồng Thái (2015 - Tội không thi hành án); Hồ Hữu Thành (2016 - Tội cản trở việc thi hành án); Hồ Mạnh Hà (2016 - Tội không tố giác tội phạm); Đỗ Thị Thanh Giang (2014 - Tội trốn khỏi nơi giam, giữ).
  • Đề tài khoa học và sách chuyên khảo:
    • Trần Mạnh Đạt chủ nhiệm (2012), Đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong điều kiện cải cách tư pháp, Đề tài cấp Bộ, Bộ Tư pháp (giai đoạn 2005 - 2010).
    • Nguyễn Tất Viễn (2016), Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong luật hình sự Việt Nam, Sách chuyên khảo, NXB Tư pháp.
    • Đinh Văn Quế (2021), Bình luận khoa học chuyên sâu BLHS: Phần các tội phạm, tập 5, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
    • Trần Minh Hưởng và Đặng Thu Hiền (2002), Tìm hiểu các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, NXB Văn hóa Dân tộc.

Khoảng trống nghiên cứu của luận án

Tác giả chỉ ra rằng các công trình trong nước trước đây chủ yếu được xây dựng trên nền tảng BLHS năm 1985 hoặc BLHS năm 1999, hoặc chỉ đi sâu vào từng tội danh đơn lẻ. Kể từ khi BLHS năm 2015 có hiệu lực, chưa có công trình cấp tiến sĩ nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn áp dụng toàn bộ nhóm tội này. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc kết hợp lý luận lập pháp hình sự hiện hành với dữ liệu thực chứng tại 8 tỉnh duyên hải miền Trung trong giai đoạn 2010 - 2021.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án xây dựng nội dung dựa trên các cơ sở lý luận và quan điểm pháp lý:

  • Khái niệm "Hoạt động tư pháp": Luận án phân tích ba cách tiếp cận chính:
    1. Nghĩa hẹp: Tư pháp chỉ là hoạt động xét xử và quyền tư pháp chỉ thuộc về Tòa án; các hoạt động điều tra, truy tố, thi hành án thuộc về nhánh hành pháp.
    2. Nghĩa rộng: Hoạt động tư pháp bao gồm toàn bộ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và các hoạt động bổ trợ tư pháp (luật sư, công chứng, giám định...).
    3. Quan điểm tiếp cận của luận án: Dựa trên tinh thần Hiến pháp năm 2013 và các Nghị quyết của Đảng (Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIII), luận án xác định: Quyền tư pháp là quyền xét xử do Tòa án nhân dân thực hiện (Tòa án giữ vị trí trung tâm, xét xử là hoạt động trọng tâm). Hoạt động tư pháp là những hoạt động pháp luật do Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền khác (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án) thực hiện trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ nhằm tạo điều kiện, làm cơ sở và bảo đảm cho việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án. Các hoạt động của cơ quan bổ trợ tư pháp và của đương sự không được coi là hoạt động tư pháp mang quyền lực nhà nước.
  • Dấu hiệu pháp lý đặc trưng: Khách thể loại (sự đúng đắn của hoạt động tư pháp, quyền con người, quyền công dân); Chủ thể (chia thành nhóm chủ thể đặc biệt là người tiến hành tố tụng, người có chức vụ trong hoạt động tư pháp và nhóm chủ thể thường); Mặt khách quan (hành vi làm sai lệch, cản trở, chống đối hoạt động tố tụng, thi hành án); Mặt chủ quan (lỗi cố ý).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể được phân bổ theo từng chương:

+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THEO TỪNG CHƯƠNG                                                           |
+-----------+----------------------------------------------------------------------------------------+
| Chương    | Phương pháp nghiên cứu chủ đạo                                                         |
+-----------+----------------------------------------------------------------------------------------+
| Chương 1  | Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước.             |
| Chương 2  | Lịch sử cụ thể, phân tích - tổng hợp, hệ thống, luật học so sánh quốc tế.              |
| Chương 3  | Phân tích quy phạm pháp luật, hệ thống hóa, luật học so sánh, đối chiếu lịch sử.       |
| Chương 4  | Thống kê xã hội học pháp luật, khảo sát thực tiễn, phân tích án, tổng hợp số liệu.    |
+-----------+----------------------------------------------------------------------------------------+

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam (từ năm 1945, BLHS 1985, BLHS 1999 đến BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017) và văn bản pháp luật của một số quốc gia.
  • Báo cáo công tác xét xử, kiểm sát, số liệu thống kê tội phạm giai đoạn 2010 - 2021 của Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân 8 tỉnh duyên hải miền Trung (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận).
  • Hồ sơ các vụ án hình sự điển hình đã xảy ra trên thực tế tại các địa phương khảo sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Tác giả chỉ ra rằng các công trình nước ngoài đã nghiên cứu đa dạng về hành vi cản trở công lý, trách nhiệm của công tố viên, thẩm phán tại các hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh cụ thể dưới góc độ của BLHS 1985 và BLHS 1999. Tuy nhiên, chưa có công trình cấp tiến sĩ nào đánh giá toàn diện các quy định của BLHS năm 2015 gắn với địa bàn cụ thể miền Trung. Từ đó, chương này xác định cơ sở lý thuyết, 5 câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của đề tài.

Chương 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự một số quốc gia quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

Chương 2 tập trung giải quyết các nội dung mang tính lý luận nền tảng:

  • Khái niệm và đặc trưng: Luận giải khái niệm hoạt động tư pháp, phân biệt chủ thể thực hiện quyền tư pháp (Tòa án) và các chủ thể tiến hành các hoạt động tố tụng bổ trợ nhằm thực hiện quyền tư pháp (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án).
  • Cơ sở tội phạm hóa: Phân tích sự cần thiết phải bảo vệ trật tự tố tụng, sự vô tư, khách quan của các phán quyết tư pháp và bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Khảo cứu quy định pháp luật hình sự của một số quốc gia (Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Ấn Độ, Canada, Vương quốc Anh, Scotland) về cấu thành tội phạm, hình phạt và kỹ thuật lập pháp đối với các tội chống lại công lý.
  • Lý luận định tội danh và quyết định hình phạt: Phân tích các tiêu chí phân định ranh giới giữa tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp với các tội danh khác (như tội phạm về chức vụ, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do dân chủ của công dân).

Chương 3: Quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam

Chương 3 phân tích quá trình lập pháp và thực trạng quy định hình sự:

  • Lược sử lập pháp: Khái quát sự phát triển từ năm 1945 đến trước BLHS 2015, qua các mốc pháp chế thời kỳ kháng chiến, Sắc lệnh, Thông tư và hai lần pháp điển hóa năm 1985 và 1999.
  • Phân tích BLHS năm 2015: Đi sâu vào cấu thành pháp lý của các tội danh quy định từ Điều 367 đến Điều 391 BLHS năm 2015 (Chương XXIV). Tác giả chia nhóm tội thành:
    1. Nhóm tội do người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp thực hiện: Tội truy cứu TNHS người không có tội; Tội không truy cứu TNHS người có tội; Tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù; Tội dùng nhục hình; Tội bức cung; Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc; Tội ra bản án/quyết định trái pháp luật; Tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật...
    2. Nhóm tội do người tham gia tố tụng hoặc người khác thực hiện: Tội khai báo gian dối; Tội cung cấp tài liệu sai sự thật; Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu; Tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác trong việc khai báo, cung cấp tài liệu; Tội tiêu hủy chứng cứ, tài liệu; Tội trốn khỏi nơi giam, giữ; Tội không chấp hành án; Tội cản trở việc thi hành án...
  • Nhận diện bất cập: Chỉ ra các mâu thuẫn trong việc thiết kế khung hình phạt, sự thiếu đồng bộ giữa các điều luật phần chung và phần các tội phạm cụ thể, cũng như các điểm chưa rõ ràng trong dấu hiệu định tội.

Chương 4: Thực tiễn áp dụng pháp luật về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp và các yêu cầu giải pháp đảm bảo áp dụng đúng pháp luật về các tội phạm này

Chương 4 phản ánh thực chứng tình hình tội phạm và thực tiễn xét xử tại 8 tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010 - 2021 thông qua hệ thống dữ liệu và bảng số liệu:

+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| DANH MỤC CÁC BẢNG DỮ LIỆU THỰC TIỄN TRONG CHƯƠNG 4 CỦA LUẬN ÁN                                     |
+----------+-----------------------------------------------------------------------------------------+
| Ký hiệu  | Tên bảng thống kê                                                                       |
+----------+-----------------------------------------------------------------------------------------+
| Bảng 4.1 | Số liệu các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp trên địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung  |
|          | giai đoạn 2010 - 2021.                                                                  |
| Bảng 4.2 | Số liệu các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp tại từng địa phương cụ thể thuộc các tỉnh  |
|          | duyên hải miền Trung giai đoạn 2010 – 2021.                                             |
| Bảng 4.3 | Tỷ lệ tội phạm cụ thể trong nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên địa bàn        |
|          | các tỉnh duyên hải miền Trung trong năm 2021.                                           |
| Bảng 4.4 | Kết quả định tội danh đối với người phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên địa bàn    |
|          | các tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010 - 2021.                                    |
| Bảng 4.5 | Kết quả quyết định hình phạt đối với người phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên địa |
|          | bàn các tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010 - 2021.                                |
+----------+-----------------------------------------------------------------------------------------+

Phân tích thực tiễn tại chương này chỉ rõ:

  • Tình hình xử lý các hành vi sai phạm của cán bộ tiến hành tố tụng (dùng nhục hình, bức cung, làm sai lệch hồ sơ vụ án) còn gặp nhiều rào cản do tính chất khép kín và vị trí công tác của người thực hiện hành vi.
  • Tồn tại vướng mắc trong kỹ thuật định tội danh và phân định giữa tội phạm với vi phạm kỷ luật hoặc vi phạm hành chính.
  • Việc áp dụng hình phạt trong một số vụ án còn chưa phản ánh đúng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện ở cấp độ tiến sĩ về nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên cơ sở các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và định hướng cải cách tư pháp theo các văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết số 49-NQ/TW và Hiến pháp năm 2013.
  2. Làm sáng tỏ ranh giới khái niệm giữa "thực hiện quyền tư pháp" (chức năng duy nhất của Tòa án) và "hoạt động tư pháp" (các hoạt động tố tụng, điều tra, truy tố, kiểm sát, thi hành án nhằm phục vụ việc thực hiện quyền tư pháp).
  3. Hệ thống hóa có so sánh các kinh nghiệm lập pháp quốc tế và các giai đoạn lịch sử lập pháp Việt Nam đối với nhóm tội phạm chống lại công lý.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  1. Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng tội phạm, kết quả định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp tại 8 tỉnh duyên hải miền Trung trong giai đoạn 12 năm (2010 - 2021).
  2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự:
    • Sửa đổi, bổ sung các dấu hiệu cấu thành pháp lý của một số tội phạm cụ thể trong Chương XXIV BLHS năm 2015 nhằm khắc phục các khoảng trống và sự thiếu rõ ràng trong văn bản.
    • Điều chỉnh khung hình phạt đối với một số tội danh bảo đảm tính tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi và tính đồng bộ với phần chung của BLHS.
    • Tội phạm hóa một số hành vi nguy hiểm mới phát sinh trong hoạt động tố tụng và thi hành án chưa được quy định trong BLHS hiện hành.
  3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật:
    • Ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật từ Hội đồng Thẩm phán TANDTC và liên ngành tư pháp trung ương đối với các trường hợp khó định tội (như dùng nhục hình làm chết người, làm sai lệch hồ sơ).
    • Nâng cao năng lực chuyên môn, văn hóa pháp lý và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, chấp hành viên.
    • Hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực tư pháp, phát huy vai trò điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc phát hiện và xử lý tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực chứng của luận án tập trung chủ yếu tại 8 tỉnh thuộc khu vực duyên hải miền Trung trong khung thời gian 2010 - 2021. Do đó, các đặc điểm cụ thể về tình hình tội phạm và cơ cấu án phản ánh đặc thù địa bàn khu vực này và chưa bao quát toàn bộ các vùng miền khác trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên phạm vi toàn quốc hoặc tại các đô thị lớn và địa bàn miền núi.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế kiểm soát quyền lực và phòng ngừa tội phạm tham nhũng, chức vụ trong hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số hoạt động tư pháp (tòa án điện tử, số hóa hồ sơ vụ án).

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo cho các đối tượng và hoạt động cụ thể:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan tham mưu chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn phục vụ cho việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Chương XXIV Bộ luật Hình sự năm 2015 và các văn bản tố tụng liên quan.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng (TAND, VKSND, CQĐT, Cơ quan Thi hành án): Làm tài liệu tham khảo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp; hỗ trợ việc thống nhất nhận thức trong định tội danh và lượng hình.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các học phần Luật Hình sự Việt Nam, Luật Tố tụng hình sự, Tội phạm học và Khoa học điều tra tội phạm.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân định khái niệm "quyền tư pháp" và "hoạt động tư pháp" như thế nào?
Luận án xác định quyền tư pháp là quyền xét xử thuộc thẩm quyền duy nhất của Tòa án nhân dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. "Hoạt động tư pháp" là tổng thể các hoạt động pháp luật do Tòa án và các cơ quan khác (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án) thực hiện theo trình tự luật định nhằm bảo đảm, tạo tiền đề và hiện thực hóa quyền tư pháp của Tòa án.

2. Địa bàn khảo sát thực tiễn của luận án gồm những tỉnh, thành phố nào?
Luận án khảo sát thực tiễn tại 8 tỉnh, thành phố thuộc khu vực duyên hải miền Trung, gồm: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận, trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2021.

3. Số liệu tội phạm tại khu vực duyên hải miền Trung năm 2021 có biến động ra sao so với toàn quốc?
Theo Báo cáo công tác năm 2021 của VKSND các tỉnh duyên hải miền Trung được trích dẫn trong luận án, số lượng vụ án khởi tố tại khu vực này tăng 4,7% về số vụ so với năm 2020 (toàn quốc tăng 3,1%); riêng nhóm án chức vụ và xâm phạm hoạt động tư pháp tăng 8,5% (trong khi toàn quốc tăng 6,1%).

4. Những vướng mắc điển hình trong định tội danh được luận án nêu ra là gì?
Vướng mắc điển hình là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi dùng nhục hình dẫn đến việc nạn nhân bị chết: thực tiễn tồn tại sự thiếu thống nhất khi một số nơi chỉ xử lý về tội Dùng nhục hình, trong khi nơi khác xử lý về cả hai tội (tội Dùng nhục hình và tội Giết người hoặc Cố ý gây thương tích).


Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Phùng Anh Dũng là công trình nghiên cứu chuyên khảo về nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015. Trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận về quyền tư pháp và hoạt động tư pháp, phân tích kinh nghiệm quốc tế và lịch sử lập pháp, công trình đã đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật thông qua dữ liệu thực chứng giai đoạn 2010 - 2021 tại 8 tỉnh duyên hải miền Trung. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ cho việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự và đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng thống nhất, nâng cao hiệu quả phòng ngừa, xử lý tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp tại Việt Nam.