Tổng quan về luận án
Bảo đảm sự đúng đắn, nghiêm minh và độc lập của nền tư pháp là một trong những trụ cột then chốt của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luận án tiến sĩ luật học "Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn các tỉnh duyên hải miền Trung" của nghiên cứu sinh Phùng Anh Dũng (người hướng dẫn khoa học: PGS. Trần Văn Độ, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 2023) đặt nền móng tiên phong trong việc nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với nhóm tội phạm quy định tại Chương XXIV (từ Điều 367 đến Điều 391) Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 dưới góc độ lý luận luật học, luật học so sánh và thực chứng tội phạm học.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) lớn nhất được xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu cấp độ tiến sĩ đánh giá tổng thể nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong bối cảnh thi hành BLHS năm 2015 và chiến lược cải cách tư pháp mới (sau công trình nền tảng của Nguyễn Tất Viễn năm 1996 dựa trên BLHS 1985). Đa phần các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận đơn lẻ một cấu thành tội phạm cụ thể (như tội che giấu tội phạm, tội không thi hành án, tội ra bản án trái pháp luật) mà chưa giải quyết được mâu thuẫn cốt lõi về mặt khái niệm: nội hàm "hoạt động tư pháp" và "cơ quan tư pháp" trong thể chế chính trị - pháp lý Việt Nam, cũng như xung đột thực tiễn trong việc định tội danh và lượng hình đối với các tội phạm có chủ thể đặc biệt là người tiến hành tố tụng.
Luận án giải quyết 04 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và kiểm chứng 04 giả thuyết khoa học (Hypotheses - H):
- RQ1: Bản chất pháp lý, nội hàm khoa học của quyền tư pháp và hoạt động tư pháp trong mối tương quan với cơ cấu bộ máy nhà nước Việt Nam được xác lập như thế nào?
- RQ2: Những bất cập, khoảng trống và sự bất tương xứng về chế tài trong các quy định từ Điều 367 đến Điều 391 BLHS năm 2015 là gì khi so sánh với chuẩn mực quốc tế?
- RQ3: Thực tiễn định tội danh và áp dụng hình phạt đối với nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp tại 08 tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010–2021 bộc lộ những sai lệch, vướng mắc cấu trúc nào?
- RQ4: Hệ thống giải pháp lập pháp hình sự và giải pháp tổ chức thi hành nào có tính khả thi để bảo đảm tính thống nhất, nghiêm minh của pháp luật?
Khung lý thuyết của công trình được xây dựng trên sự tích hợp của Lý thuyết Phân công và Kiểm soát quyền lực nhà nước (Montesquieu; Thể chế hóa theo Hiến pháp 2013), Lý thuyết Cấu thành tội phạm xã hội chủ nghĩa (Socialist Criminal Law Theory) và Lý thuyết Thủ tục tố tụng công bằng (Due Process Model của Herbert Packer). Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu thực chứng kéo dài 12 năm (2010–2021) trên địa bàn 08 tỉnh, thành phố duyên hải miền Trung: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Kết quả nghiên cứu tạo đột phá khi phân định rành mạch giữa "thực hiện quyền tư pháp" (duy nhất thuộc về Tòa án) và "hoạt động tư pháp" (quá trình bao gồm điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án), cung cấp luận cứ sửa đổi trực tiếp các quy phạm tại Chương XXIV BLHS 2015.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tình hình nghiên cứu quốc tế và trong nước cho thấy một bức tranh đa tầng nhưng còn phân mảnh về tội phạm chống lại hoạt động tư pháp:
Về mặt quốc tế, các học giả tiếp cận nhóm tội danh này dưới khái niệm "Crimes against justice" hoặc "Offences against the administration of justice". Andrii R. Popovych (2020) trong nghiên cứu so sánh lập pháp Liên minh Châu Âu (EU) tại các nước Latvia, Romania, Đức, Hà Lan đã chỉ ra rằng các quốc gia này tách bạch rõ ràng giữa tội danh do nhân viên tư pháp thực hiện (lạm dụng quyền lực tư pháp) và tội danh do công dân thực hiện (cản trở công lý). Marta Burczycka và Christopher Munch (2015, Juristat) khi phân tích dữ liệu 2004–2015 tại Canada đã xác định xu hướng gia tăng của các hành vi can thiệp vào tiến trình tố tụng xuất phát từ lỗ hổng quản lý hồ sơ và sự suy giảm tính liêm chính tư pháp. Tại Ấn Độ, Srishti John (2020) phân tích Chương XI BLHS Ấn Độ (Mục 201 đến 229A), tập trung vào sự phân hóa trách nhiệm giữa hành vi tiêu hủy chứng cứ của người có thẩm quyền và hành vi khai báo gian dối của nhân chứng. Các công trình kinh điển như Blackstone's Commentaries on the Laws of England (Yale Law School, 2008) và giáo trình Điều tra hình sự của Đại học Tổng hợp Quốc gia Lômônôxôp (Liên bang Nga, 2005) nhấn mạnh rằng tội phạm do cán bộ tư pháp thực hiện có tính ẩn tàng cực cao do thủ đoạn che giấu tinh vi dựa trên chuyên môn tố tụng.
Tại Việt Nam, các công trình trước đây tạo lập những mảng lý luận quan trọng nhưng còn giới hạn về phạm vi: Nguyễn Tất Viễn (1996, 2016) đặt nền móng ban đầu về hệ thống tội danh nhưng dựa trên nền tảng BLHS 1985; Nguyễn Huy Hoàn (2005) tiếp cận từ góc độ bảo đảm quyền con người trong tư pháp; Trần Mạnh Đạt (2012, đề tài cấp Bộ Tư pháp) nghiên cứu phòng chống tội phạm trong điều kiện thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW; hàng loạt luận văn thạc sĩ của Bùi Đức Bằng (2013), Đỗ Thị Thanh Giang (2014), Phạm Thị Mai Anh (2015), Trần Thị Hồng Thái (2015), Hồ Hữu Thành (2016), Hồ Mạnh Hà (2016) chỉ đào sâu từng tội danh riêng lẻ.
Luận án định vị vị trí khoa học bằng việc lấp đầy 03 khoảng trống cốt tử: (1) Khái quát hóa lý luận toàn diện cho cả nhóm tội phạm Chương XXIV BLHS 2015 thay vì nghiên cứu cục bộ từng tội danh; (2) Giải quyết sự xung đột trường phái giữa "quan niệm tư pháp nghĩa hẹp" (chỉ gồm xét xử) và "quan niệm tư pháp nghĩa rộng" (gồm điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án); (3) Khảo sát thực chứng chuyên sâu trên địa bàn duyên hải miền Trung – nơi ghi nhận tỷ lệ gia tăng tội phạm tư pháp năm 2021 lên tới 8,5% so với cùng kỳ năm trước (vượt trội so với mức tăng 6,1% của toàn quốc) và là tâm điểm của các đại án oan sai, dùng nhục hình chấn động cả nước.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án tạo bước tiến lý luận quan trọng trong khoa học luật hình sự Việt Nam thông qua việc tái định nghĩa và phân tầng cấu trúc của quyền tư pháp và hoạt động tư pháp:
Thứ nhất, luận án giải quyết triệt để cuộc tranh luận học thuật kéo dài về chủ thể quyền tư pháp. Dựa trên tinh thần Hiến pháp 2013 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ("Tòa án giữ vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm trong quá trình này"), công trình khẳng định Tòa án nhân dân là chủ thể duy nhất thực hiện quyền tư pháp (quyền phán quyết nhân danh Nhà nước có tính tài phán độc lập). Trong khi đó, các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án là các chủ thể thực hiện "hoạt động tư pháp" – tức các hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm tạo tiền đề, kiểm soát và hiện thực hóa phán quyết tư pháp của Tòa án.
Thứ hai, hoàn thiện lý thuyết khách thể của tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Khách thể loại của nhóm tội này không đơn thuần là "hoạt động đúng đắn của cơ quan tư pháp" theo lối tiếp cận hành chính truyền thống, mà chính là "trật tự pháp lý tố tụng bảo đảm công lý, quyền con người, quyền công dân và tính tối thượng của pháp luật trong nhà nước pháp quyền". Khi có sự xung đột khách thể phức hợp (như tội dùng nhục hình làm chết người), luận án luận giải nguyên tắc định tội danh dựa trên khách thể trực tiếp ưu tiên bảo vệ quyền sống của con người kết hợp với tính chất bảo vệ sự liêm chính tư pháp.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án kết hợp 04 yếu tố cấu thành tội phạm truyền thống (Khách thể, Mặt khách quan, Chủ thể, Mặt chủ quan) với Mô hình phân tầng chủ thể kép:
- Nhóm chủ thể đặc biệt (Internal Actors): Cán bộ, người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Chấp hành viên). Nhóm này xâm phạm hoạt động tư pháp từ bên trong thông qua hành vi lạm quyền, làm sai lệch hồ sơ, dùng nhục hình, bức cung, ra bản án trái pháp luật.
- Nhóm chủ thể thường (External Actors): Người tham gia tố tụng và công dân (Nhân chứng, Người giám định, Bị can, Đương sự). Nhóm này xâm phạm hoạt động tư pháp từ bên ngoài thông qua hành vi khai báo gian dối, trốn khỏi nơi giam giữ, cản trở thi hành án, mua chuộc, đe dọa người làm chứng.
Khung phân tích đặt ra các điều kiện biên (boundary conditions) phân định rõ ràng giữa vi phạm kỷ luật/nghiệp vụ hành chính tư pháp với tội phạm hình sự, loại trừ các hoạt động bổ trợ tư pháp thuần túy (luật sư, công chứng, giám định tư pháp ngoài công lập) ra khỏi nhóm chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước trực tiếp.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận dụng lập trường nhận thức luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mác-xít, kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa Khoa học Luật hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Tội phạm học và Xã hội học pháp luật:
- Triết lý nghiên cứu: Hiện thực phê phán (Critical Realism) – không chỉ mô tả câu chữ của điều luật mà bóc tách các mâu thuẫn vận hành quyền lực thực tế giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
- Thiết kế hỗn hợp (Mixed-methods): Kết hợp phân tích chuẩn tắc quy phạm pháp luật (Doctrinal Legal Research) với khảo cứu thực chứng định lượng (Empirical Quantitative Analysis) và nghiên cứu tình huống điển hình (Qualitative Case Studies).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý thông tin được thực hiện nghiêm ngặt qua 04 tầng kiểm chứng (Triangulation):
- Tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation): Đối chiếu báo cáo tổng kết của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao với báo cáo nghiệp vụ thường niên của VKSND và TAND 08 tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010–2021.
- Khảo sát thực địa và xã hội học pháp luật: Thu thập bảng hỏi, phỏng vấn sâu các chuyên gia pháp lý, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên công tác tại Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hòa.
- Phân tích án lệ và vụ án điển hình: Mổ xẻ toàn bộ hồ sơ nghiệp vụ của các vụ án điển hình gây xôn xao dư luận xã hội: vụ án dùng nhục hình dẫn đến hậu quả nạn nhân Ngô Thanh Kiều bị chết tại Phú Yên; vụ án oan sai nghiêm trọng của ông Huỳnh Văn Nén bị bức cung, dùng nhục hình dẫn đến chấp hành hình phạt tù oan sai gần 17 năm tại Bình Thuận.
- Độ tin cậy và giá trị: Các biểu mẫu thống kê số liệu được chuẩn hóa, mã hóa theo danh mục tội danh từ Điều 367 đến Điều 391 BLHS 2015, đối soát chéo với các ấn phẩm thống kê tư pháp chính thức.
Data và phân tích
Phân tích định lượng dựa trên bộ cơ sở dữ liệu tội phạm học toàn diện:
- Mẫu dữ liệu: 100% các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tại 08 tỉnh thành Duyên hải miền Trung từ ngày 01/01/2010 đến ngày 31/12/2021.
- Kỹ thuật thống kê: Sử dụng thống kê mô tả tần suất (Descriptive Statistics), phân tích chuỗi thời gian (Time-series trend analysis), ma trận so sánh cơ cấu tội danh qua các bảng số liệu chuyên biệt (Bảng số liệu tổng thể 2010–2021, Bảng phân bố địa phương cụ thể, Bảng tỷ lệ định tội danh và Bảng cơ cấu quyết định hình phạt).
| Chỉ số thực chứng | Địa bàn Duyên hải miền Trung (2010–2021) | So sánh toàn quốc | Ý nghĩa thống kê & Pháp lý |
|---|---|---|---|
| Mức tăng số vụ khởi tố (2021 so với 2020) | +4,7% | +3,1% | Tốc độ phát sinh tội phạm tư pháp cao hơn mặt bằng chung 1,6 điểm % |
| Mức tăng tội chức vụ & xâm phạm tư pháp (2021) | +8,5% | +6,1% | Xu hướng gia tăng đột biến của nhóm chủ thể tiến hành tố tụng (+2,4 điểm %) |
| Tỷ lệ áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo | Chiếm tỷ trọng cao trong nhóm tội danh chức vụ tư pháp | Thấp hơn ở các nhóm tội xâm phạm sở hữu/tính mạng thông thường | Phản ánh hiện tượng xử lý nội bộ, thiếu tính răn đe đối với chủ thể đặc biệt |
| Tỷ lệ xung đột định tội danh (Dùng nhục hình vs Giết người) | Tập trung tại các vụ án có hậu quả chết người (Vụ Ngô Thanh Kiều) | Chưa có án lệ/hướng dẫn liên tịch thống nhất | Bộc lộ lỗ hổng cấu thành tội phạm tại Điều 373 BLHS 2015 |
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Sự bùng phát và tính ẩn tàng của tội phạm tư pháp tại địa bàn Duyên hải miền Trung: Số liệu báo cáo năm 2021 của VKSND các tỉnh duyên hải miền Trung chỉ ra sự gia tăng 8,5% số vụ phạm tội về chức vụ, xâm phạm hoạt động tư pháp so với cùng kỳ năm trước. Mức độ nguy hiểm của hành vi không giảm mà chuyển sang các phương thức tinh vi hơn: làm sai lệch hồ sơ điện tử, hợp thức hóa tài liệu điều tra, trì hoãn tiếp nhận tố giác tin báo tội phạm.
- Sai lệch nghiêm trọng trong định tội danh hành vi dùng nhục hình làm chết người: Thực tiễn xét xử bộc lộ sự thiếu thống nhất sâu sắc. Khi hành vi dùng nhục hình dẫn đến cái chết của nạn nhân (xâm phạm đồng thời sự đúng đắn của hoạt động tư pháp và quyền được sống của con người), các cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng giữa việc định tội danh đơn nhất theo Điều 373 BLHS (Tội dùng nhục hình với tình tiết tăng nặng làm chết người) hay khởi tố kết hợp/chuyển hóa sang Điều 123 BLHS (Tội giết người). Vụ án nạn nhân Ngô Thanh Kiều tại Phú Yên là minh chứng rõ nét cho xung đột nhận thức pháp lý này.
- Hiện tượng "bỏ lọt hành vi nguy hiểm cho xã hội": Tồn tại nhiều hành vi can thiệp thô bạo vào tiến trình công lý nhưng chưa được BLHS 2015 quy định là tội phạm, chẳng hạn: hành vi đe dọa, trả thù người tiến hành tố tụng chưa đến mức gây thương tích; hành vi mua chuộc người tham gia tố tụng trong các vụ việc dân sự, hành chính phức tạp; hành vi từ chối cung cấp chứng cứ mang tính nghĩa vụ bắt buộc mà không có lý do chính đáng.
- Bất tương xứng trong hệ thống hình phạt: Mức chế tài quy định tại Chương XXIV thể hiện sự khập khiễng khi so sánh với Chương XXIII (Các tội phạm về chức vụ). Nhiều tội danh xâm phạm tư pháp có hậu quả phá hủy toàn bộ sinh mệnh pháp lý của công dân (như vụ ông Huỳnh Văn Nén bị kết án tù oan sai gần 17 năm) nhưng khung hình phạt áp dụng cho người tiến hành tố tụng có hành vi bức cung, làm sai lệch hồ sơ còn quá nhẹ, áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ và hình phạt tù cho hưởng án treo không hợp lý.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Xác lập ranh giới học thuật rõ ràng giữa chức năng tài phán tư pháp và chức năng hành pháp tư pháp, bổ sung hoàn thiện hệ thống khái niệm chuẩn mực cho giáo trình luật hình sự Việt Nam.
- Về mặt phương pháp luận: Chuẩn hóa quy trình khảo sát tội phạm học dựa trên hồ sơ tố tụng thực tế tại cấp tỉnh/thành phố, có thể nhân rộng để đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật tại các vùng kinh tế - xã hội khác (Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, Vùng Thủ đô).
- Về mặt lập pháp hình sự: Đề xuất sửa đổi, bổ sung trực tiếp Chương XXIV BLHS 2015:
- Cấu trúc lại Điều 373 (Tội dùng nhục hình) và Điều 374 (Tội bức cung), phân hóa rõ khung hình phạt khi gây hậu quả chết người hoặc thương tật đặc biệt nặng tương đương mức chế tài của Tội giết người.
- Bổ sung tội phạm hóa hành vi cản trở hoạt động điều tra độc lập của Cơ quan điều tra VKSNDTC.
- Tăng cường mức hình phạt bổ sung: cấm đảm nhiệm chức vụ trong các cơ quan tiến hành tố tụng vĩnh viễn đối với cán bộ phạm tội xâm phạm tư pháp.
- Về mặt tổ chức thi hành: Tăng cường lắp đặt camera giám sát bắt buộc có ghi âm tại 100% phòng hỏi cung; thiết lập cơ chế bảo vệ nhân chứng và người tố giác tội phạm thực chất; nâng cao thẩm quyền điều tra độc lập của Cơ quan Điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại các địa bàn trọng điểm.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn chỉ ra các giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn không gian và địa bàn: Phạm vi thực chứng tập trung tại 08 tỉnh duyên hải miền Trung. Mặc dù khu vực này mang tính đại diện cao về độ phức tạp của tội phạm tư pháp, nhưng một số đặc thù của các đô thị đặc biệt (Hà Nội, TP.HCM) hoặc khu vực miền núi phía Bắc chưa được phản ánh trọn vẹn.
- Giới hạn tiếp cận dữ liệu mật: Một số vụ án xâm phạm tư pháp có mức độ nhạy cảm chính trị - nội bộ cao dẫn đến việc tiếp cận toàn văn hồ sơ nghiệp vụ điều tra ban đầu gặp rào cản hành chính nhất định.
- Khung thời gian nghiên cứu (2010–2021): Số liệu dừng lại ở năm 2021, chưa đánh giá hết các biến chuyển mới của tội phạm phi truyền thống (sử dụng công nghệ cao làm sai lệch dữ liệu chứng cứ số trong tố tụng điện tử).
Định hướng nghiên cứu tương lai:
- Nghiên cứu mở rộng khảo sát so sánh thực chứng trên toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Xây dựng lý thuyết định tội danh đối với các hành vi xâm phạm chứng cứ số, xâm phạm hệ thống Tòa án điện tử và điều tra kỹ thuật số.
- Nghiên cứu cơ chế tư pháp phục hồi (Restorative Justice) và bồi thường nhà nước đối với nạn nhân của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
- Đánh giá tác động của Nghị quyết số 27-NQ/TW (năm 2022) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong kỷ nguyên số đối với việc sửa đổi toàn diện BLHS.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Công trình đóng vai trò là tài liệu tham khảo nền tảng ở cấp độ tiến sĩ, định hình lại cách phân loại và giảng dạy Chương XXIV BLHS tại các cơ sở đào tạo luật hàng đầu như Học viện Khoa học Xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật TP.HCM, Học viện Tư pháp. Ước tính công trình tạo nguồn trích dẫn quan trọng cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành 9.04.
- Tác động lập pháp và chính sách: Cung cấp báo cáo kiến nghị luận cứ khoa học trực tiếp cho Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong quá trình rà soát, tổng kết thi hành BLHS 2015 và chuẩn bị dự thảo sửa đổi, bổ sung BLHS trong giai đoạn tới.
- Lợi ích xã hội và nhân quyền: Nâng cao hiệu quả xử lý các hành vi lạm quyền, bức cung, dùng nhục hình; củng cố niềm tin của nhân dân vào nền công lý; bảo đảm quyền con người, ngăn ngừa triệt để các thảm kịch oan sai như trường hợp Huỳnh Văn Nén hay Ngô Thanh Kiều.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh, Học viên cao học & Giảng viên Luật: Tiếp cận hệ thống luận điểm lý luận chuẩn mực, khung phân tích chủ thể kép và bộ số liệu thực chứng 12 năm độc quyền về địa bàn duyên hải miền Trung.
- Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Điều tra viên: Cẩm nang nghiệp vụ sắc bén giúp tháo gỡ các điểm nghẽn trong định tội danh, phân biệt ranh giới giữa vi phạm tố tụng và tội phạm hình sự, chuẩn hóa lượng hình.
- Các nhà hoạch định chính sách & Cơ quan lập pháp: Bản kiến nghị lập pháp chi tiết kèm dự thảo điều luật sửa đổi cụ thể cho Chương XXIV BLHS 2015.
- Luật sư và các tổ chức bảo vệ nhân quyền: Cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ trước các hành vi lạm quyền, bức cung, làm sai lệch chứng cứ từ phía cơ quan công quyền.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Luận án đã mở rộng Lý thuyết Phân công quyền lực trong Nhà nước pháp quyền XHCN bằng cách giải quyết triệt để ranh giới học thuật giữa "Quyền tư pháp" (chỉ gồm quyền phán quyết, xét xử độc lập của Tòa án nhân dân theo Điều 102 Hiến pháp 2013) và "Hoạt động tư pháp" (chuỗi hành vi quyền lực gồm điều tra, truy tố, kiểm sát, thi hành án do nhiều cơ quan phối hợp thực hiện). Luận án xác lập lại khách thể bảo vệ của Chương XXIV BLHS 2015 không phải là lợi ích hành chính của cơ quan tư pháp mà là trật tự pháp lý tố tụng bảo vệ công lý và quyền con người.
2. Đột phá về phương pháp luận nghiên cứu so với các công trình trước đây?
So với công trình của Nguyễn Tất Viễn (1996) chỉ thuần túy phân tích quy phạm văn bản và các luận văn thạc sĩ đơn lẻ (2012–2016) chỉ nghiên cứu một tội danh, luận án của Phùng Anh Dũng là công trình tiến sĩ đầu tiên thực hiện phương pháp tiếp cận hỗn hợp toàn diện: kết hợp phân tích chuẩn tắc quy phạm với nghiên cứu thực chứng tội phạm học liên tục 12 năm (2010–2021) trên phạm vi toàn bộ 08 tỉnh Duyên hải miền Trung, xử lý đồng thời 25 tội danh thuộc Chương XXIV BLHS 2015.
3. Phát hiện thực chứng gây bất ngờ nhất được hỗ trợ bởi số liệu là gì?
Phát hiện bất ngờ nhất là tỷ lệ gia tăng tội phạm về chức vụ và xâm phạm hoạt động tư pháp tại Duyên hải miền Trung năm 2021 lên tới 8,5% so với cùng kỳ năm trước (cao hơn mức tăng chung toàn quốc là 6,1%), đi kèm với tỷ lệ áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo bất hợp lý đối với nhóm tội danh do người tiến hành tố tụng thực hiện, cho thấy xu hướng "hành chính hóa" và xử lý nội bộ vẫn còn tồn tại dai dẳng trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
4. Luận án có cung cấp quy trình nhân rộng (Replication Protocol) không?
Có. Luận án xây dựng bảng tiêu chí mã hóa dữ liệu tội phạm học tư pháp và ma trận đối chiếu 4 yếu tố cấu thành tội phạm áp dụng cho 25 điều luật Chương XXIV, cho phép các nhà nghiên cứu khác áp dụng chính xác quy trình này để khảo sát trên các địa bàn kinh tế - xã hội khác như Tây Bắc, Tây Nguyên hoặc Tây Nam Bộ.
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới (10-Year Research Agenda) được phác thảo thế nào?
Luận án vạch ra 03 định hướng nghiên cứu chiến lược: (1) Pháp điển hóa tội phạm xâm phạm dữ liệu chứng cứ số và tố tụng điện tử; (2) Thiết lập cơ chế kiểm soát độc lập phòng chống tham nhũng và lạm quyền tư pháp; (3) Hoàn thiện lý luận và chính sách hình sự về tư pháp phục hồi (Restorative Justice) nhằm khắc phục hậu quả vật chất và danh dự cho người bị oan sai.
Kết luận
- Khẳng định Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp; xác định rõ nội hàm hoạt động tư pháp là cơ chế bảo đảm thực thi quyền tư pháp.
- Hệ thống hóa và phân hóa sâu sắc 25 tội danh trong Chương XXIV BLHS năm 2015 theo mô hình chủ thể kép (chủ thể đặc biệt trong cơ quan tố tụng và chủ thể thường ngoài xã hội).
- Cung cấp bức tranh thực chứng tội phạm học toàn diện nhất về thực tiễn xử lý tội xâm phạm hoạt động tư pháp tại 08 tỉnh Duyên hải miền Trung giai đoạn 2010–2021, chỉ ra các nguyên nhân căn cốt dẫn đến các vụ án oan sai nghiêm trọng.
- Đưa ra hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể, kiến nghị sửa đổi, định khung lại các tội dùng nhục hình, bức cung, làm sai lệch hồ sơ vụ án nhằm bảo đảm tính tương xứng của chế tài hình sự.
- Mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành mới về tội phạm học tư pháp, bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền tư pháp văn minh, liêm chính trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.