Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xác định nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; hoàn thiện thể chế để Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và hạn chế oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử sơ thẩm vẫn còn tồn tại những bản án chưa bảo đảm tính có căn cứ và tính hợp pháp. Kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát (VKS) là phương thức tố tụng trực tiếp nhằm khắc phục sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm trước khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc áp dụng các quy định của BLTTHS năm 2015 về kháng nghị phúc thẩm trong giai đoạn vừa qua đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập từ quy định pháp luật đến khâu tổ chức thực hiện, dẫn đến tỷ lệ bản án bị sửa, hủy chưa phản ánh đúng vai trò kiểm sát xét xử.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản, quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và thực tiễn thi hành các quy định về kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kháng nghị.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ các vấn đề lý luận chung, xây dựng khái niệm, phân tích ý nghĩa của kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm; so sánh các quy định của BLTTHS năm 2015 với BLTTHS năm 2003 để đánh giá sự phát triển của pháp luật tố tụng hình sự.
- Đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về kháng nghị phúc thẩm trên phạm vi cả nước trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022; chỉ ra các kết quả đạt được, những mặt hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp và tổ chức thực hiện nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Các quy định của BLTTHS năm 2015, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, các quy chế nghiệp vụ của ngành Kiểm sát và các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật liên quan.
- Về không gian và thời gian: Đánh giá thực tiễn thi hành trên phạm vi toàn quốc thông qua số liệu tổng kết công tác của VKSND tối cao trong giai đoạn 5 năm, từ năm 2018 đến năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm chỉ đạo về cải cách tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Khung pháp lý và cơ sở lý luận được tác giả sử dụng bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (khoản 6 Điều 103 về nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử hai cấp).
- BLTTHS năm 2015 (so sánh với BLTTHS năm 1988 và năm 2003).
- Luật Tổ chức VKSND năm 2014 (Điều 3, Điều 4, Điều 5).
- Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 (Chương XX về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng).
- Các văn bản quy phạm và nghiệp vụ liên quan: Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP; Quyết định số 505/2017/QĐ-VKSTC (ban hành Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự); Quyết định số 379/QĐ-VKSTC (ban hành Hệ thống chỉ tiêu đánh giá công tác nghiệp vụ ngành Kiểm sát); Chỉ thị số 08/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng VKSND tối cao.
Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Làm rõ nội hàm các khái niệm pháp lý, cấu trúc của quyền kháng nghị và các căn cứ phát sinh quyền kháng nghị.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định giữa BLTTHS năm 2015 với BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 1988 để nhận diện sự thay đổi quy định.
- Phương pháp thống kê: Xử lý và phân tích số liệu thực tiễn về công tác kháng nghị phúc thẩm của toàn ngành Kiểm sát trong giai đoạn 2018 - 2022.
Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ các Báo cáo tổng kết công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự của VKSND tối cao (2018 - 2022); các bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm cụ thể tại các địa phương (TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cà Mau).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm
Chương 1 tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận và phân tích có hệ thống các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm:
-
Khái niệm và ý nghĩa:
- Khái niệm: Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các quan điểm khoa học (quan điểm tiếp cận theo góc độ quyền năng tố tụng của Lê Thanh Dương; quan điểm tiếp cận theo góc độ hình thức văn bản của Đinh Văn Quế; Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học), tác giả đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh:
"Kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm là sự phản đối bằng văn bản của Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật khi phát hiện sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử sơ thẩm."
- Ý nghĩa: Về mặt chính trị - xã hội, kháng nghị bảo đảm nguyên tắc công bằng, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, củng cố niềm tin của nhân dân vào hoạt động xét xử. Về mặt pháp lý, kháng nghị là căn cứ làm phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm, xác định phạm vi xét xử lại và hiện thực hóa nguyên tắc hai cấp xét xử quy định tại khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.
-
Các yếu tố pháp lý của kháng nghị theo BLTTHS năm 2015:
- Đối tượng kháng nghị: Bản án hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật (Điều 330, Điều 333, Điều 336 BLTTHS). Điểm ngoại lệ được ghi nhận tại Điều 363 BLTTHS năm 2015: bản án sơ thẩm được đưa ra thi hành ngay khi Tòa án tuyên đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, hình phạt cảnh cáo hoặc hình phạt tù bằng/ngắn hơn thời hạn tạm giam đối với bị cáo đang bị tạm giam; các bản án này tuy đã phát sinh hiệu lực thi hành nhưng vẫn chưa có hiệu lực pháp luật nên vẫn là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm.
- Chủ thể và phạm vi: Chủ thể có thẩm quyền kháng nghị là Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS cùng cấp và VKS cấp trên trực tiếp; quyền này không được ủy quyền cho Kiểm sát viên (Điều 336 BLTTHS và Điều 36 Quyết định số 505/2017/QĐ-VKSTC). Phạm vi kháng nghị không bị hạn chế, bao gồm cả phần hình sự và phần dân sự trong bản án sơ thẩm, nhưng bị giới hạn bởi phạm vi truy tố và xét xử của cấp sơ thẩm (khoản 1 Điều 358 BLTTHS).
- Căn cứ kháng nghị: BLTTHS năm 2015 chưa có điều luật riêng quy định căn cứ kháng nghị phúc thẩm mà quy định gián tiếp qua Điều 266, Điều 267. Hiện nay, VKS căn cứ vào khoản 1 Điều 37 Quyết định số 505/2017/QĐ-VKSTC với 4 căn cứ:
- Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng tính chất vụ án.
- Kết luận, quyết định trong bản án sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
- Có sai lầm trong việc áp dụng các quy định của BLHS, BLDS và các văn bản pháp luật khác.
- Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng (theo điểm o khoản 1 Điều 4 BLTTHS và Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT).
- Hình thức và thủ tục: Quyết định kháng nghị phải lập bằng văn bản theo Mẫu số 15/QĐ (ban hành kèm Quyết định số 505/QĐ-VKSTC). Thời hạn gửi quyết định: trong 02 ngày kể từ ngày ban hành, VKS phải gửi cho Tòa án sơ thẩm, VKS khác có thẩm quyền, bị cáo và những người liên quan (Điều 338 BLTTHS). Tòa án sơ thẩm gửi hồ sơ cho Tòa án phúc thẩm trong 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Thời hạn kháng nghị: 15 ngày đối với VKS cùng cấp; 30 ngày đối với VKS cấp trên trực tiếp kể từ ngày Tòa tuyên án (Điều 337 BLTTHS). Pháp luật hiện hành không cho phép kháng nghị quá hạn. Tác giả phân tích hai quan điểm về thời điểm bắt đầu tính thời hạn (tính từ ngày tuyên án hay tính từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án) và ủng hộ quan điểm tính từ ngày tiếp theo.
- Hậu quả pháp lý: Tạm đình chỉ việc thi hành phần bản án hoặc toàn bộ bản án bị kháng nghị; mở ra cấp xét xử thứ hai (Điều 339 BLTTHS).
- Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị: Theo Điều 342 BLTTHS, VKS có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo nếu đã hết thời hạn kháng nghị. Tác giả chỉ ra bất cập: quy định "không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo" chưa bảo đảm quyền lợi bình đẳng của các đương sự khác (bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự).
Chương 2: Thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm và các giải pháp nâng cao chất lượng
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn áp dụng quy định thông qua các số liệu thống kê giai đoạn 2018 - 2022 và các vụ án cụ thể:
1. Kết quả đạt được
- Sự phối hợp giữa VKS các cấp: Trong giai đoạn 2018 - 2022, toàn ngành Kiểm sát đã ban hành kháng nghị phúc thẩm đối với 4.664 vụ án và 8.159 bị cáo. Trong đó, VKS cấp trên trực tiếp kháng nghị chiếm tỷ lệ trung bình 45,63% về số vụ và 49,51% về số bị cáo.
| Năm |
Tổng số vụ VKS kháng nghị |
Số vụ VKS cấp trên kháng nghị |
Tỷ lệ vụ VKS cấp trên (%) |
Tổng số bị cáo VKS kháng nghị |
Số bị cáo VKS cấp trên kháng nghị |
Tỷ lệ bị cáo VKS cấp trên (%) |
| 2018 |
809 |
382 |
47,22 |
1.475 |
710 |
48,14 |
| 2019 |
1.328 |
474 |
35,70 |
1.724 |
811 |
47,03 |
| 2020 |
907 |
482 |
53,13 |
1.672 |
850 |
50,84 |
| 2021 |
792 |
411 |
51,89 |
1.588 |
838 |
52,81 |
| 2022 |
828 |
426 |
51,45 |
1.700 |
876 |
51,53 |
| Tổng |
4.664 |
2.175 |
45,63 |
8.159 |
4.085 |
49,51 |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác VKSND tối cao các năm 2018 - 2022)
- Kháng nghị kịp thời các vụ án có vi phạm: Tỷ lệ số vụ và số bị cáo đã xét xử phúc thẩm do VKS kháng nghị chiếm tỷ lệ ổn định trong tổng số vụ/bị cáo xét xử phúc thẩm cả nước (trung bình 9,20% về số vụ và 10,41% về số bị cáo), cho thấy công tác kháng nghị được thực hiện có trọng tâm, không dàn trải.
| Năm |
Tổng số vụ xét xử phúc thẩm |
Số vụ phúc thẩm do VKS kháng nghị |
Tỷ lệ vụ do VKS kháng nghị (%) |
Tổng số bị cáo xét xử phúc thẩm |
Số bị cáo phúc thẩm do VKS kháng nghị |
Tỷ lệ bị cáo do VKS kháng nghị (%) |
| 2018 |
9.085 |
864 |
9,51 |
14.589 |
1.470 |
10,08 |
| 2019 |
9.743 |
958 |
9,82 |
15.631 |
1.730 |
11,07 |
| 2020 |
8.755 |
905 |
9,18 |
14.036 |
1.467 |
10,42 |
| 2021 |
8.190 |
756 |
9,12 |
13.953 |
1.444 |
10,35 |
| 2022 |
10.417 |
920 |
8,82 |
18.607 |
1.911 |
10,27 |
| Tổng |
46.200 |
4.303 |
9,20 |
76.906 |
8.017 |
10,41 |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác VKSND tối cao các năm 2018 - 2022)
- Chất lượng kháng nghị được Tòa án phúc thẩm chấp nhận ở mức cao: Tỷ lệ Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị đạt trung bình 74,82% số vụ và 74,27% số bị cáo. Đa số kháng nghị được chấp nhận liên quan đến tội danh, hình phạt, mức hình phạt và các tình tiết tăng nặng/giảm nhẹ (tiêu biểu như Bản án phúc thẩm số 910/2021/HS-PT của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh chấp nhận kháng nghị sửa Bản án sơ thẩm số 332/2020/HS-ST, tăng hình phạt đối với 02 bị cáo Trương Tấn T và Lê Quang Th về tội "Cướp giật tài sản").
| Năm |
Số vụ phúc thẩm do VKS kháng nghị |
Số bị cáo do VKS kháng nghị |
Số vụ Tòa án chấp nhận |
Số bị cáo Tòa án chấp nhận |
Tỷ lệ vụ được chấp nhận (%) |
Tỷ lệ bị cáo được chấp nhận (%) |
| 2018 |
864 |
1.470 |
583 |
1.128 |
65,15 |
76,72 |
| 2019 |
958 |
1.730 |
741 |
1.348 |
76,44 |
77,82 |
| 2020 |
905 |
1.467 |
614 |
1.080 |
76,26 |
73,86 |
| 2021 |
756 |
1.444 |
585 |
1.077 |
77,41 |
74,47 |
| 2022 |
920 |
1.911 |
687 |
1.396 |
75,75 |
69,30 |
| Tổng |
4.303 |
8.017 |
3.210 |
5.554 |
74,82 |
74,27 |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác VKSND tối cao các năm 2018 - 2022)
2. Những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân
- Tỷ lệ kháng nghị không được chấp nhận còn cao: Trung bình 25,73% kháng nghị không được Tòa án chấp nhận, chưa đạt chỉ tiêu theo Quyết định số 379/QĐ-VKSTC (yêu cầu tỷ lệ không chấp nhận phải dưới 20%). Ngoài ra, trung bình mỗi năm VKS phải thực hiện 173 kháng nghị giám đốc thẩm/tái thẩm, chứng minh VKS các cấp đã bỏ sót nhiều vi phạm của bản án sơ thẩm mà không kịp thời kháng nghị phúc thẩm.
- Tỷ lệ Tòa án sửa bản án sơ thẩm theo kháng nghị của VKS chiếm tỷ lệ thấp: Trong tổng số 35.574 bị cáo được Tòa án phúc thẩm tuyên sửa bản án sơ thẩm giai đoạn 2018 - 2022, chỉ có 4.421 bị cáo được sửa theo kháng nghị của VKS (chiếm tỷ lệ 12,43%), phần lớn các trường hợp sửa án xuất phát từ kháng cáo của người tham gia tố tụng.
| Năm |
Tổng số bị cáo Tòa án phúc thẩm sửa bản án |
Số bị cáo sửa bản án theo kháng nghị của VKS |
Tỷ lệ (%) |
| 2018 |
6.578 |
993 |
14,87 |
| 2019 |
6.807 |
944 |
13,88 |
| 2020 |
6.531 |
845 |
12,94 |
| 2021 |
6.583 |
778 |
11,82 |
| 2022 |
8.800 |
927 |
10,54 |
| Tổng |
35.574 |
4.421 |
12,43 |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác VKSND tối cao các năm 2018 - 2022)
Ví dụ điển hình về bỏ sót vi phạm: Bản án sơ thẩm số 25/2018/HS-ST ngày 18/5/2018 của TAND quận Hồng Bàng (Hải Phòng) xử phạt bị cáo Phạm Đức Th về tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ". Bản án có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội khi xác định duy nhất bị cáo Th có lỗi trong khi anh T điều khiển xe đầu kéo qua đường giao nhau cũng có lỗi; VKS hai cấp không kháng nghị mà Tòa án TP. Hải Phòng phải sửa án theo kháng cáo của bị cáo (Bản án số 65/2018/HS-PT).
- Tỷ lệ kháng nghị yêu cầu hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án rất thấp: Tổng cộng chỉ có 10 bị cáo được Tòa án phúc thẩm hủy bản án và đình chỉ vụ án theo kháng nghị của VKS trên tổng số 359 bị cáo được hủy, đình chỉ (chiếm 2,78%).
| Năm |
Tổng số bị cáo Tòa án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án |
Số bị cáo hủy bản án và đình chỉ vụ án theo kháng nghị của VKS |
Tỷ lệ (%) |
| 2018 |
18 |
1 |
5,55 |
| 2019 |
60 |
5 |
8,32 |
| 2020 |
67 |
3 |
4,48 |
| 2021 |
89 |
0 |
0,00 |
| 2022 |
125 |
1 |
0,80 |
| Tổng |
359 |
10 |
2,78 |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác VKSND tối cao các năm 2018 - 2022)
- Quyết định kháng nghị chủ yếu tập trung vào các vi phạm rõ ràng: VKS chủ yếu tập trung kháng nghị các sai sót về lượng hình hoặc tổng hợp hình phạt (như vụ Bản án số 50/2020/HS-ST của TAND huyện C, Cà Mau đối với bị cáo U và O), trong khi các sai lầm phức tạp về định giá tài sản, bỏ sót đương sự có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (như vụ Bản án số 02/2023/HS-ST của TAND huyện Cái Nước, Cà Mau) thường bị phát hiện chậm.
- Nguyên nhân của những tồn tại:
- Về mặt lập pháp: BLTTHS năm 2015 chưa luật hóa các căn cứ kháng nghị phúc thẩm; chưa quy định rõ thời điểm bắt đầu thời hạn kháng nghị; thời hạn Tòa án giao/gửi bản án sơ thẩm quá dài (10 ngày) trong khi thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp ngắn (15 ngày), thu hẹp thời gian nghiên cứu của Kiểm sát viên; quy định "không làm xấu hơn tình trạng bị cáo" chưa bảo đảm công bằng với quyền lợi của các đương sự khác.
- Về tổ chức thực hiện: Năng lực của một bộ phận Kiểm sát viên chưa đồng đều; cơ chế thông tin, báo cáo giữa VKS cấp dưới và VKS cấp trên còn chậm trễ; sự phối hợp liên ngành VKS - Tòa án có thời điểm chưa chặt chẽ.
Kết quả và đóng góp
1. Kết quả nghiên cứu chính
Khóa luận đã trích xuất, phân tích toàn diện bộ số liệu 5 năm (2018 - 2022) của ngành Kiểm sát nhân dân, chỉ ra thực trạng:
- Tỷ lệ VKS cấp trên trực tiếp kháng nghị đạt trung bình 45,63% số vụ và 49,51% số bị cáo.
- Tỷ lệ kháng nghị của VKS được Tòa án phúc thẩm chấp nhận đạt trung bình 74,82% số vụ và 74,27% số bị cáo.
- Tỷ lệ sửa án theo kháng nghị của VKS chỉ chiếm 12,43% tổng số bị cáo bị sửa án, và tỷ lệ hủy án đình chỉ vụ án theo kháng nghị của VKS chỉ chiếm 2,78% tổng số bị cáo được hủy, đình chỉ vụ án.
2. Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Tác giả đề xuất các kiến nghị lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015:
- Bổ sung một điều luật riêng quy định cụ thể 4 căn cứ kháng nghị phúc thẩm vào BLTTHS, luật hóa các nội dung từ Quyết định số 505/2017/QĐ-VKSTC:
"Điều... Căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm:
Bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
1. Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng tính chất của vụ án;
2. Kết luận, quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án;
3. Có sai lầm trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác;
4. Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng."
- Xây dựng văn bản hướng dẫn cụ thể: Quy định chi tiết các trường hợp "vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng" làm căn cứ kháng nghị dựa trên sự tương thích với Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT.
- Sửa đổi cách tính thời điểm bắt đầu thời hạn kháng nghị: Quy định rõ ngày bắt đầu tính thời hạn kháng nghị là "ngày tiếp theo của ngày Tòa tuyên án".
3. Đóng góp khoa học
- Hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự, xây dựng khái niệm khoa học chuẩn xác.
- Chỉ rõ những điểm chưa hoàn thiện của BLTTHS năm 2015 (thiếu căn cứ trực tiếp, bất cập về thời hạn gửi bản án và xung đột quyền lợi giữa bị cáo với các đương sự khác trong việc thay đổi, bổ sung kháng nghị).
- Đóng góp luận cứ thực tiễn thông qua việc xử lý số liệu toàn quốc và các bản án xét xử thực tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dữ liệu thực tiễn trong khóa luận giới hạn trong phạm vi các Báo cáo tổng kết công tác của VKSND tối cao giai đoạn 2018 - 2022; chưa có điều kiện khảo sát số liệu chi tiết tại từng cấp VKS địa phương trên toàn bộ 63 tỉnh, thành phố mà chỉ minh họa qua các bản án điển hình tại TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Cà Mau.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng đánh giá thực tiễn thi hành quyền kháng nghị phúc thẩm trong các giai đoạn tiếp theo gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW.
- Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế giải quyết xung đột lợi ích giữa bị cáo và các đương sự dân sự trong việc áp dụng nguyên tắc "không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo" khi sửa đổi, bổ sung kháng nghị phúc thẩm.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự và Tư pháp hình sự tham khảo làm tài liệu học tập, nghiên cứu đề tài khóa luận, luận văn.
- Cán bộ thực tiễn, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư nghiên cứu các căn cứ kháng nghị và quy trình xử lý vi phạm bản án sơ thẩm.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Hệ thống 4 căn cứ kháng nghị phúc thẩm và các án lệ/bản án thực tế minh họa vi phạm về định tội danh, lượng hình, và vi phạm thủ tục tố tụng.
- Hệ thống 5 bảng số liệu thống kê toàn quốc phản ánh thực trạng xét xử phúc thẩm và kháng nghị giai đoạn 2018 - 2022.
- Các phân tích pháp lý về thời điểm tính thời hạn kháng nghị và quy định tại Điều 363 BLTTHS năm 2015.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm được tác giả định nghĩa như thế nào?
Tác giả định nghĩa: Kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm là sự phản đối bằng văn bản của Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật khi phát hiện sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử sơ thẩm.
2. Giai đoạn 2018 - 2022, tỷ lệ kháng nghị của VKS được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận là bao nhiêu?
Theo Báo cáo tổng kết của VKSND tối cao trong giai đoạn 2018 - 2022, Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận 3.210 vụ trên tổng số 4.303 vụ án VKS kháng nghị (đạt tỷ lệ 74,82%) và chấp nhận 5.554 bị cáo trên tổng số 8.017 bị cáo VKS kháng nghị (đạt tỷ lệ 74,27%).
3. Bản án sơ thẩm đã được đưa ra thi hành ngay theo Điều 363 BLTTHS 2015 có còn là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm không?
Có. Mặc dù theo Điều 363 BLTTHS năm 2015, hiệu lực thi hành của bản án phát sinh sớm hơn (đối với bị cáo đang bị tạm giam được tuyên không có tội, đình chỉ vụ án, miễn trách nhiệm hình sự, án treo...) nhưng bản án đó vẫn chưa phát sinh hiệu lực pháp luật do vẫn còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị, do đó vẫn là đối tượng của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
4. Bốn căn cứ kháng nghị phúc thẩm được tác giả đề xuất luật hóa vào BLTTHS gồm những nội dung nào?
Bốn căn cứ gồm: (1) Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng tính chất vụ án; (2) Kết luận, quyết định trong bản án sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án; (3) Có sai lầm trong việc áp dụng các quy định của BLHS, BLDS và các văn bản pháp luật khác; (4) Thành phần HĐXX sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.
5. Điểm bất cập trong quy định "không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo" khi sửa đổi, bổ sung kháng nghị là gì?
Quy định này chỉ bảo vệ bị cáo mà chưa tính đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác (bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự). Do lợi ích giữa bị cáo và đương sự khác thường đối lập nhau, việc giữ nguyên hoặc thay đổi kháng nghị theo hướng có lợi cho bị cáo có thể trực tiếp làm xấu đi tình trạng hoặc xâm phạm quyền lợi bồi thường của bị hại và các đương sự liên quan.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Phan Thị Thanh An đã làm rõ toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của BLTTHS năm 2015 về kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm. Dựa trên việc phân tích số liệu thực tiễn 5 năm (2018 - 2022) của ngành Kiểm sát, công trình đã chứng minh vai trò quan trọng của VKS trong kiểm sát xét xử, đồng thời chỉ ra những khoảng trống pháp luật về căn cứ kháng nghị và thời hạn tố tụng. Các đề xuất sửa đổi, bổ sung BLTTHS và hoàn thiện văn bản hướng dẫn là những đóng góp có giá trị học thuật và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.