phần mở đầu và phần kết luận. Luận văn gồm ba chương: Chƣơng 1: Những lý luận cơ bản về chất lượng thẩm định tín dụng Chƣơng 2: Thực trạng chất lượng thẩm định tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các NHTM Việt Nam và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Chương Dương Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Chương Dương. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Trước tiên, để có được khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa, chúng ta bắt đầu nghiên cứu từ khái niệm doanh nghiệp. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp, nhưng theo Luật doanh nghiệp nước Việt Nam năm 2014 và có hiệu lực từ 01/07/2015 đã nêu: “ Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Khi căn cứ vào quy mô hoạt động của doanh nghiệp thì người ta có thể phân thành 2 loại doanh nghiệp là: Doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một loại hình doanh nghiệp có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Khi nói đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa là nói đến cách phân loại doanh nghiệp dựa trên cơ sở, độ lớn hay quy mô doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự phân loại doanh nghiệp lớn, vừa hay nhỏ chỉ mang tính chất tương đối, do quá trình phân loại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ phát triển kinh tế của từng nước, tính chất ngành nghề, giai đoạn lịch sử, mục đích phân loại… Đối với Việt Nam việc phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được cụ thể hoá bằng nghị định số 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ 9 đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này Theo cách phân loại này doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta chiếm khoảng 98% trong tổng số lượng doanh nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Công ty cổ phần, Công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân).
Tuy nhiên, với chính sách cổ phần hoá diễn ra mạnh mẽ trong thời gian gần đây khiến các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc thành phần kinh tế Nhà nước ngày càng chiếm tỷ trọng nhỏ dần, và hầu như là chuyển đổi sang Công ty cổ phần. Trong những năm gần đây có thể nói tỷ trọng các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong tổng số các doanh nghiệp Việt Nam đã tăng đáng kể và chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng số các doanh nghiệp Việt Nam 1. Đặc điểm của loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa Do có cách phân loại doanh nghiệp như trên doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có những đặc điểm riêng cụ thể như: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất năng động nhạy bén và dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường. Sự năng động, nhạy bén và dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường được xem là một ưu thế nổi trội của Doanh nghiệp.
Với quy mô nhỏ và vừa, bộ máy quản lý gọn nhẹ điều này tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng những đòi hỏi có hạn của thị trường chuyên môn hoá. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa có mối liên hệ trực tiếp với người tiêu thụ và thị trường nên thường có phản ứng nhạy bén với những biến động của thị trường. Ngoài ra, cơ sở vật chất kỹ thuật không lớn, chi phí sản xuất thấp do đó khi thị trường có sự biến động lớn thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể nhanh chóng chuyển đổi sang sản xuất lĩnh vực khác mà không gây hậu quả nặng nề như đối với doanh nghiệp lớn. 10 Doanh nghiệp nhỏ và vừa có nguồn tài chính hạn chế.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa bị hạn chế về nguồn tài chính, do vốn đăng ký kinh doanh không được vượt quá 10 tỷ đồng, vốn của các doanh nghiệp này thường rất nhỏ bé, vốn chủ sở hữu thấp gây ra nhiều bất lợi trong công việc kinh doanh như khả năng tiếp cận vốn vay từ các tổ chức tín dụng nói chung và các Ngân hàng thương mại nói riêng. Điều này khiến một số doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tìm kiếm các nguồn tài chính phi chính thức với lãi suất cao để tài trợ cho hoạt động của mình. Thực tế cho thấy, quy mô doanh nghiệp càng nhỏ khả năng huy động vốn càng yếu kém. Khó khăn về vốn kéo theo hàng loạt các kho khăn khác đó là quá trình sản xuất không thông suốt, khả năng mở rộng quy mô sản xuất bị hạn chế, không có khả năng tích luỹ vốn.
Công nghệ thiết bị sản xuất của doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu là lạc hậu. Với nguồn tài chính hạn hẹp không cho phép các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư quá nhiều vào trang thiết bị sản xuất tiên tiến, hiện đại, không có đủ vốn tài trợ thường xuyên để đầu tư nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị. Đầu tư công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường là các công nghệ đã lạc hậu. Đặc biệt đối với nước ta, một nước được đánh giá là tụt hậu so với thế giới, công nghệ mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng có thể đánh giá là cực kỳ lạc hậu và lỗi thời.
Tuy nhiên, do xu thế hiện đại hoá ngày càng mở rộng và phát triển, nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta đang dần sử dụng những công nghệ hiện đại được sản xuất ngay trong nước với giá rẻ hơn nhiều so với nhập ngoại, điều này giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa vừa nâng cao trang thiết bị và chất lượng sản xuất ra. 11 Thị trường và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tương đối thấp. Do hạn chế về vốn, công nghệ, lao động nên doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ hoạt động trong phạm vi địa lý nhỏ, chỉ đáp ứng nhu cầu cho một phần nhỏ dân cư ở đó. Ngoài ra, sản phẩm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có chất lượng không đảm bảo tiêu chuẩn,do đó khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thị trường thường thấp hơn so với các doanh nghiệp lớn.
Bên cạnh đó doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp phải một số hạn chế nhất định trong việc thâm nhập vào thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường và khả năng Marketing cũng kém. Trình độ quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn non kém. Trình độ quản lý của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là tình trạng đáng lo ngại, nhiều đối tượng lao động của doanh nghiệp chưa từng được đào tạo qua một trường lớp chính quy nào, thiếu những kiến thức cơ bản về kinh tế và pháp luật. Ngoài ra, số lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa có trình độ được đào tạo chính quy còn rất ít.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường khó thu hút được nhiều cán bộ quản lý giỏi, các công nhân tay nghề cao do chế độ đãi ngộ và điều kiện làm việc mà họ cung cấp không thể tốt bằng doanh nghiệp lớn. Tựu chung lại, mặc dù có một số ưu nhất định và được đánh giá là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, nhưng các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Hầu như các bất cập và khó khăn này đều bắt nguồn từ sự hạn chế về vốn 1. Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế.
Ngày nay, tầm quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được quốc tế thừa nhận, hoạt động và sự phát triển của các DNNVV đóng vai trò lớn 12 trong sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Cũng như các nước trên thế giới, ở Việt Nam các DNNVV có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.