CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về giấc ngủ và rối loạn giấc ngủ Khái niệm chung Theo từ điển Oxford English, giấc ngủ là một tình trạng của cơ thể và lý trí thường xảy ra một vài giờ vào mỗi buổi tối, khi mà các hoạt động thần kinh bị hạn chế, mắt nhắm lại, cơ bắp thư giãn và hầu hết hoạt động của ý thức bị trì hoãn. Một định nghĩa khoa học khác từ Stedman’s Medical Dictionary chỉ ra rằng giấc ngủ là “một chu kỳ tự nhiên của tâm trí và cơ thể, khi mà mắt nhắm lại và ý thức bị gián đoạn hoàn toàn hoặc gián đoạn một phần, đồng thời giảm sự chuyển động vật lý của cơ thể cũng như làm giảm sự phản ứng của cơ thể đối với các kích thích từ các tác nhân xung quanh”. Từ những định nghĩa trên có thể rút ra những điểm chung, cơ bản và quan trọng khi định nghĩa về giấc ngủ, đó là: - Giấc ngủ là một chu kỳ tự nhiên - Giấc ngủ có tính lặp lại và diễn ra thường xuyên trong cuộc sống - Giấc ngủ liên quan đến tâm trí và hoạt động của cơ thể - Giấc ngủ liên quan đến sự gián đoạn tạm thời của ý thức - Giấc ngủ liên quan đến sự ngừng hoạt động của cơ bắp.
Hiệp hội Rối loạn giấc ngủ Hoa Kỳ công bố hệ thống phân loại đầu tiên dành riêng cho các chứng rối loạn giấc ngủ. Theo đó, có đến hơn 100 loại rối loạn giấc ngủ được phân loại dựa trên nguyên nhân, triệu chứng, tác động sinh lý và tâm lý và các tiêu chí khác. Tuy nhiên, hầu hết các rối loạn giấc ngủ thường có các dấu hiệu sau đây [42]: Buồn ngủ nhưng khó có thể đi ngủ. Gặp khó khăn trong việc cố gắng tỉnh táo vào ban ngày.
Bị mất cân bằng trong nhịp sinh học thức – ngủ mỗi ngày. 4 Có những hành vi bất thường làm gián đoạn giấc ngủ. Bất kỳ dấu hiệu nào trong số này đều có thể cho thấy bạn bị rối loạn giấc ngủ. Tùy theo triệu chứng bệnh, có thể hướng dẫn cách điều trị phù hợp nhất [42].
Như vậy, giấc ngủ có thể được định nghĩa như sau: “Giấc ngủ là một trạng thái tự nhiên, có tính chu kỳ, làm gián đoạn tạm thời một phần hay toàn bộ hoạt động của tâm trí và hoạt động cơ bắp cũng như làm giảm khả năng phản ứng của cơ thể đối với các kích thích từ môi trường bên ngoài” [39]. Giấc ngủ là một nhu cầu sinh lý căn bản và chiếm đến khoảng 1/3 thời gian sống của chúng ta. Cơ chế của hiện tượng vẫn chưa được biết rõ, nhưng rối loạn giấc ngủ sẽ ảnh hướng nhiều đến tâm sinh lý của con người [12]. Cấu trúc của một giấc ngủ bình thường: Trên người lớn, giấc ngủ có cấu trúc chu kỳ với sự xen kẽ các giai đoạn giấc ngủ chậm sâu dân (I, II, III, IV) và giai đoạn giấc ngủ nghịch đảo (V) Giai đoạn I: giấc ngủ chậm, nông, sự chuyển tiếp từ buồn ngủ sang ngủ.
Các hoạt động sóng Theta trên EEG (2-7 chu kỳ/giây), Chuyển động nhãn cầu chậm. Giai đoạn II: giấc ngủ chậm, nông Hoạt động Theta trên EEG với những chuỗi sóng nhanh và phức hợp K giai đoạn I và II chiếm 50% tổng thời lượng ngủ mỗi đêm. Giai đoạn III: giấc ngủ chậm sâu Hoạt động Delta (sóng chậm 0,5 – 2 chu kỳ/giây) trên EEG giai đoạn IV: giấc ngủ chậm sâu, giai đoạn giấc ngủ sâu nhất Hoạt động delta chiếm >50% trên EEG Giai đoạn III và IV chiếm 25% thời lượng của giấc ngủ mỗi đêm. Giai đoạn V: giấc ngủ nghịch đảo, chiếm 25% tổng thời lượng mỗi giấc ngủ Hoạt động Theta trên EEG Chuyển động nhãn cầu nhanh, mất trương lực cơ.
Thư viện ĐH Thăng Long 5 Trong mỗi đêm có 3 đến 5 chu kỳ ngủ tuần tự diễn ra. Những chu kỳ vào đầu đêm thường thiên về giấc ngủ chậm sâu, những chu kỳ về cuối đêm thường thiên về giấc ngủ nghịch thường. Rối loạn giấc ngủ Những rối loạn giấc ngủ đơn thuần và tạm thời rất là bình thường ở mọi lứa tuổi và không cần phải có bất kỳ can thiệp cụ thể nào. Rối loạn giấc ngủ chỉ được xem là bệnh lý nếu: Nó tồn tại kéo dài; mức độ nhiều khiến bệnh nhân phải chịu đựng; làm ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân; kéo theo tình trạng lạm dụng thuốc hướng thần [12].
Rối loạn giấc ngủ ở người lớn là một trong những bệnh ngoại trú thường gặp và là một trong những nguyên nhân lạm dụng thuốc hàng đầu. Nó không phải là một bệnh lý chuyên biệt và luôn cần phải loại trừ một nguyên nhân tâm lý, thực thể hay nguyên nhân do độc chất bằng cách hỏi bệnh và khám lâm sàng toàn diện [12]. Các loại rối loạn giấc ngủ Trong các loại rối loạn giấc ngủ, một số dạng bệnh phổ biến nhất mà chúng ta thường mắc phải [12]. Mất ngủ: Mất ngủ là tình trạng khó đi vào giấc ngủ vào ban đêm, lặp đi lặp lại trong nhiều ngày.
Những người bị mất ngủ thường bị buồn ngủ quá mức vào ban ngày cũng như dễ bị các chứng suy giảm nhận thức khác trong khi đang thức. Tình trạng rối loạn giấc ngủ này nếu kéo dài, diễn ra ít nhất ba lần mỗi tuần trong ít nhất ba tháng thì được xem là mất ngủ mãn tính. Hiện nay, thống kê từ tổ chức nghiên cứu về giấc ngủ National Sleep Foundation (Mỹ) cho thấy, có đến khoảng ⅓ số người trưởng thành “chung sống” với chứng mất ngủ [42]. Hội chứng ngưng thở khi ngủ: Chứng ngưng thở khi ngủ cũng là một dạng rối loạn giấc ngủ khiến người bệnh bị tắc nghẽn đường thở trên mỗi khi đi ngủ.
Có 2 dạng ngưng thở khi ngủ chính là ngưng thở tắc nghẽn và ngưng thở trung ương. Ngoài ra, còn có chứng ngưng thở hỗn hợp là sự phối hợp hai loại trên. 6 Khi đi vào giấc ngủ, thanh quản sẽ hẹp lại khiến cho không khí lưu thông qua vùng hầu họng trở nên khó khăn hơn. Lúc này, người bệnh sẽ có hiện tượng ngáy để chống lại hiện tượng trên.
Hoặc người bệnh cũng có thể ngừng thở trong một khoảng thời gian (thường là 10 giây) [42]. Chứng ngưng thở khi ngủ có thể khiến người bệnh ngưng thở nhiều lần trong lúc ngủ và hoàn toàn không nhớ gì về tình trạng này cho dù có thức giấc sau mỗi lần ngưng thở. Giống như các chứng rối loạn giấc ngủ khác, chứng ngưng thở khi ngủ có thể gây ra tình trạng buồn ngủ quá mức, mệt mỏi, uể oải, suy giảm nhận thức,… vào ban ngày. Chứng ngủ rũ Narcolepsy: Chứng ngủ rũ là một dạng rối loạn giấc ngủ khiến người bệnh cảm thấy mệt mỏi quá mức vào ban ngày mặc dù đã nghỉ ngơi đầy đủ vào đêm hôm trước.
Tình trạng này khiến bạn luôn trong trạng thái “thèm ngủ” và có thể ngủ những giấc ngủ gật đột ngột vào ban ngày. Hội chứng chân không yên (RLS): Hội chứng chân không yên (Restless Leg Syndrome – RLS hay còn được gọi là bệnh Willis-Ekbom) là một loại rối loạn vận động liên quan đến giấc ngủ. Tình trạng này khiến người bệnh cảm thấy ngứa ngáy, đau nhói, khó chịu ở chân và có cảm giác muốn chân di chuyển ngay cả trong lúc ngủ. Tình trạng rối loạn giấc ngủ này thường có biểu hiện nhẹ vào buổi sáng và trở nên nghiêm trọng hơn mỗi tối.
Bệnh mất ngủ giả (Parasomnias): Parasomnias là tình trạng “mất ngủ giả” – một dạng rối loạn giấc ngủ tương đối phổ biến hiện nay. Người mắc bệnh mất ngủ giả có thể có những hành vi bất thường trước khi đi vào giấc ngủ hoặc trong giấc ngủ. Mộng du, nói chuyện trong khi ngủ, rên rỉ trong khi ngủ, gặp ác mộng, tè dầm,… là những hành vi thường gặp của người mắc chứng rối loạn giấc ngủ này. Rối loạn giấc ngủ nhịp sinh học (Circadian): Rối loạn nhịp điệu giấc ngủ hay còn gọi là rối loạn giấc ngủ nhịp sinh học là tình trạng khó đi vào giấc ngủ, thức dậy quá sớm nhưng không thể ngủ trở lại, thức dậy trong chu kỳ ngủ,… Tình trạng rối loạn giấc ngủ này bao gồm các dạng như: rối loạn giai đoạn ngủ muộn, Thư viện ĐH Thăng Long 7 rối loạn giai đoạn giấc ngủ nâng cao, rối loạn giấc ngủ do làm công việc theo ca, nhịp điệu ngủ – thức không đều, hội chứng ngủ – thức không theo 24 giờ,… Ngoài 6 dạng rối loạn giấc ngủ kể trên, còn nhiều dạng rối loạn giấc ngủ khác như ngủ quá mức vô căn, hội chứng Kleine-Levin (hội chứng người đẹp ngủ), chứng tê liệt trong giấc ngủ,…[42] 1.
Các phương pháp đánh giá chất lượng giấc ngủ Đánh giá chất lượng giấc ngủ có thể được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, dưới đây là một số phương pháp thông dụng: − Nhật ký giấc ngủ: Ghi lại thời gian ngủ, thời gian tỉnh dậy, số lần tỉnh giấc và cảm giác thức dậy sau khi ngủ. Nhật ký giấc ngủ này giúp phân tích mẫu giấc ngủ và xác định các vấn đề liên quan đến giấc ngủ [47]. − Kiểm tra Polysomnography (PSG): Đây là một kiểm tra giấc ngủ chuyên sâu được tiến hành trong phòng ngủ, ngủ đêm tại bệnh viện hoặc phòng ngủ đặc biệt. PSG ghi lại thông số như hoạt động não, hoạt động cơ bắp, thông khí, nhịp tim, ngưng thở và chuyển động mắt để đánh giá chính xác các yếu tố của giấc ngủ [47].
− Câu hỏi đánh giá giấc ngủ: Có một số câu hỏi tiêu chuẩn mà bạn có thể trả lời để đánh giá chất lượng giấc ngủ. Ví dụ: Thời gian để ngủ vào ban đêm, số lần tỉnh dậy trong đêm, cảm giác trạng thái sau khi thức dậy, cảm giác có đủ nghỉ ngơi hay không [47]. Tại Việt Nam đã sử dụng thang đo PSQI.Pittburgh Sleep Quaility Index (PSQI) được phát triển vào năm 1989 do Pittburgh xây dựng là thang đo thông dụng và phổ biến, lượng giá được về độ tin cậy và tính giá trị trong nhiều nghiên cứu. PSQI là một bảng câu hỏi ngắn gọn đầy đủ để đánh giá chất lượng giấc ngủ và những rối loạn giấc ngủ trong khoảng thời gian 1 tháng vừa qua, bao gồm 7 thành phần: chất lượng giấc ngủ chủ quan, độ trễ giấc ngủ, thời gian ngủ, hiệu quả của thói quen đi ngủ, các rối loạn giấc ngủ, sử dụng thuốc ngủ và các rối loạn chức năng trong ngày tạo nên 3 yếu tố: hiệu quả giấc ngủ, chất lượng 8 giấc ngủ và rối loạn ban ngày.
Được chia thành 19 câu hỏi, mỗi câu hỏi được tính từ 0 - 3 điểm, tổng số điểm từ tất cả các câu trong khoảng 0 - 21 điểm [76].