Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương vềbệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1. Định nghĩa Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh lý hô hấp mạn tính có thể dự phòng và điều trị được. Bệnh đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn, sự cản trở thông khí này thường tiến triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi với các phân tử nhỏ hoặc khí độc hại mà trong đó khói thuốc lá và thuốc lào đóng vai trò quan trọng hàng đầu[1],[3],[15].
Phân loại Theo GOLD 2016(Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease) [18],[35]: - Giai đoạn I (mức độ nhẹ): + FEV1/FVC < 70%. + Có hoặc không có ho và khạc đờm mạn tính. - Giai đoạn II (mức độ trung bình): + FEV1/FVC < 70%. + Có hoặc không có triệu chứng (ho, khạc đờm).
- Giai đoạn III (mức độ nặng): + FEV1/FVC < 70%. + Thường có triệu chứng (ho, khạc đờm). - Giai đoạn IV (mức độ rất nặng): + FEV1/FVC < 70%. Kèm theo triệu chứng của suy hô hấp mạn hoặc tâm phế mạn.
Dịch tễ học Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đến năm 1997 đã có khoảng 600 triệu người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), bệnh được xếp hàng thứ 4 về nguyên nhân gây tử vong và là nguyên nhân gây tàn tật thứ 12. Ước tính trong thập kỷ này số người mắc BPTNMT tăng gấp 3 - 4 lần và đến năm 2020 bệnh sẽ đứng hàng thứ 3 về nguyên nhân tử vong và đứng thứ 5 trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu[12]. Nghiên cứu BOLD (Burden of Obstructive Lung Disease study) công bố kết quả về tỷ lệ mắc của 12 điểm ở 12 quốc gia cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT cao nhất tại thành phố Cape Town, Nam Phi 22,2% nam giới và 16,7% nữ giới. Các địa điểm tại châu Á: Quảng Châu, Trung Quốc tỷ lệ mắc BPTNMT ở nam là 9,3% và nữ là 5,1 %.
Ở Manila, Phillippines có tới 18,8% ở nam và 6,8% ở nữ giới. Tỷ lệ mắc BPTNMT ở nam giới cao có thể một phần do sự cộng hưởng yếu tố nguy cơ là hút thuốc lá ở nam giới cao hơn[11],[12]. Ở Canada, theo điều tra y tế cộng đồng Canada năm 2005 xác định rằng: 4,4% dân số 35 tuổi trở lên thì có gần 750000 người bị mắcCOPD[55]. Ở Việt Nam, Nguyễn Viết Nhung và cộng sự (2010) nghiên cứu tỷ lệ mắc BPTNMT trong dân cư một số tỉnh thành phố phía bắc cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chung cho 2 giới là 5,1%, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới là 6,7% và ở nữ giới là 3,3%[12].
Báo cáo của Nguyễn Minh Sang và cộng sự trong Hội nghị Lao và Bệnh phổi tháng 6 năm 2011 cho biết tỉ lệ BPTNMT trong cộng đồng dân cư Việt Nam từ 40 tuổi trở lên là 4,2%, trong đó nam là 7,1% và nữ là 1,9%. Nếu chia theo khu vực thì nông thôn là 4,7%, thành thị là 3,3% và miền núi là 3,6%. Các yếu tố nguy cơ gây BPTNMT tại Việt Nam cũng như mọi nơi khác trên thế giới là hút thuốc, vốn gây tỉ lệ mắc BPTNMT tăng lên gấp 4 lần. Các tác giả cũng chú ý đến chất đốt sinh khối và cho thấy đun bếp với củi, rơm rạ làm tỉ lệ mắc BPTNMT tăng lên gấp 2 lần so 6 với khí đốt.
Ngoài thuốc lá và chất đốt sinh khối, tình trạng ô nhiễm môi trường và đặc biệt là lao phổi đã làm tăng tỉ lệ mắc BPTNMT tại Việt Nam[13]. Theo Đinh Ngọc Sỹ, Nguyễn Viết Nhung (2010) nghiên cứu tình hình dịch tễ Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT chung toàn quốc ở tất cả các lứa tuổi nghiên cứu là 2,2%, tỷ lệ mắc BPTNMT ở nam là 3,4 và nữ là 1,1%. Tỷ lệ mắc BPTNMT ở lứa tuổi 40 là 4,2%, trong khi ở nhóm dưới 40 tuổi, tỷ lệ chỉ là 0,4%. Có sự khác biệt rõ rệt giữa tỷ lệ BPTNMT ở nam/nữ ở lứa tuổi này (7,1% và 1,9%).
Ở nông thôn có tỷ lệ mắc BPTNMT cao hơn miền núi và thành thị, song sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê. Trong cộng đồng dân cư từ 40 tuổi trở lên, miền Bắc tỷ lệ mắc BPTNMT là cao nhất (5,7%) so với miền trung là 4,6 % và miền nam là 1,9 %[15]. Sinh lý bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [1],[3],[6] 1. Sự tăng tiết chất nhày và rối loạn chức năng hô hấp Sự tăng tiết chất nhày là do sự kích thích các tuyến tiết chất bởi những chất trung gian gây viêm như leucotrien, proteinase và neuropeptides.
Những tế bào lông bị dị sản dạng vảy dẫn đến suy giảm hệ số thanh thải nhày - lông. Sự giới hạn lưu lượng khí thở và sự căng phồng phổi Sự giới hạn lưu lượng khí thở không hồi phục, một số ít có thể hồi phục, do hiện tượng tái cấu trúc, xơ hóa và hẹp đường thở nhỏ. Những vị trí giới hạn đường thở là tiểu phế quản có khẩu kính < 2mm, trong BPTNMT kháng lực đường thở tăng gấp đôi bình thường. Sự phá hủy phế bào gây khí phế thủng.
Sự giới hạn lưu lượng khí được biểu hiện bởi sự giảm FEV1 và tỉ số FEV1/FVC trọng đó tỉ số FEV1/FVC giảm thường là dấu hiệu đầu tiên của sự giới hạn lưu lượng khí. Bất thường về sự trao đổi khí Sự mất cân bằng giữa thông khí/tưới máu là cơ chế chủ yếu do tổn thương thành đường thở ngoại vi và khí phế thủng. Trong khí phế thủng có sự giảm DLCO/L, từ đó gây nên thiếu oxy máu. Tình trạng thiếu oxy máu và tăng khí cácbonic ít xảy ra khi FEV1 < 100L.
Lúc đầu tình trạng thiếu oxy máu chỉ xẩy ra lúc gắng sức, nhưng khi bệnh tiến triển nặng thì tình trạng thiếu oxy máu xảy ra lúc 7 nghỉ ngơi. Ở những người BPTNMT nặng, tình trạng thiếu oxy gây co các động mạch khẩu kính nhỏ và các tiểu động mạch. Tăng áp lực phổi và tâm phế mạn Tăng áp phổi xảy ra chậm trong diễn tiến của BPTNMT (Giai đoạn III), sau đó là tâm phế mạn. Những yếu tố gây nên tăng áp phổi là sự co mạch, sự tái cấu trúc những động mạch phổi.
Sự co thắt mạch ngoài nguyên nhân do thiếu oxy máu còn do sự tổng hợp hay phóng thích NO bị giảm và sự tiết bất thường của những peptides co mạch như endothelin 1. Sự tăng áp phổi và sự giảm hệ thống mạch máu phổi do khí phế thũng có thể dẫn đến phì đại thất phải và suy tim phải.Biến chứng Ở giai đoạn cuối của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường hay có biến chứng: + Viêm phổi. + Suy hô hấp mạn tính. + Tâm phế mạn.
+ Người bệnh thường tử vong do suy hô hấp cấp tính trong đợt bùng phát của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tổng quan và phương pháp đánh giá về chất lượng cuộc sống 1. Tổng quan về chất lượng cuộc sống Năm 1948 tổ chức y tế thế giới lần đầu tiên đưa ra định nghĩa về sức khoẻ: “Sức khoẻ là sự sảng khỏi hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh hay tật”. Trong thực tế nhiều người có tật nguyền nhưng lại sống rất hạnh phúc trong khi những người khoẻ mạnh lại trở thành các tác nhân nguy hại cho xã hội.
Do vậy, sức khoẻ là một yếu tố rất quan trọng của chất lượng cuộc sống. Hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng cuộc sống. Định nghĩa theo Tổ chức Y tế Thế giới (1995)chất lượng cuộc sống - là nhận thức của con người về tình trạng cuộc sống của mình trong ngữ cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà họ đang sống, trong mối quan hệ với những mục đích, hy vọng, qui tắc và quan tâm của họ. Đó là khái niệm tổng hợp chịu ảnh hưởng phức tạp của sức khỏe thể 8 lực, tình trạng tâm lý của con người, các mức độ độc lập, các mối quan hệ xã hội và đặc điểm môi trường xung quanh[65].
Theo trung tâm nâng cao sức khỏe của Canada[57]: “Chất lượng cuộc sống được xem như mức độ bằng lòng của một người về những khả năng quan trọng của người đó”. Còn theo Oleson M[50]: Chất lượng cuộc sống là mức độ hài lòng, thoả mãn của con ngời trong những lĩnh vực mà họ cho là quan trọng nhất trong cuộc sống. Đây là một khái niệm rộng và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: Tình trạng kinh tế, chỗ ở, việc làm, tôn giáo, chính sách trợ cấp xã hội và tình trạng sức khoẻ v. Tuỳ theo lĩnh vực nào của cuộc sống được xem là quan trọng nhất và mức độ hài lòng, thoả mãn của một ngời với lĩnh vực đó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của họ.
Vì vậy, khi một người không hài lòng về một lĩnh vực không được họ xem là quan trọng thì chất luợng cuộc sống của người đó gần như không bị ảnh hưởng. Như vậy, chất lượng cuộc sống là một khái niệm đa chiều rộng mà thường bao gồm những đánh giá chủ quan của cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực của cuộc sống.Thuật ngữ "chất lượng cuộc sống" đối với mọi người và mọi ngành có thể quan niệm rất khác. Mặc dù sức khỏe là một trong những lĩnh vực quan trọng của chất lượng tổng thể của cuộc sống, nhưng các lĩnh vực khác chẳng hạn, việc làm, nhà ở, trường học, mối quan hệ với người xung quanh.Các khía cạnh của văn hóa, các giá trị và tâm linh cũng là lĩnh vực quan trọng của chất lượng tổng thể của cuộc sống. Do đó, đo lường chất lượng cuộc sống là rất phức tạp.
Phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống Đo lường chất lượng cuộc sống (CLCS) có thể giúp xác định những gánh nặng của các căn bệnh và cung cấp những hiểu biết mới có giá trị để hiểu mối quan hệ giữa CLCS và các yếu tố nguy cơ. Đo lường CLCS sẽ giúp giám sát tiến độ trong việc đạt mục tiêu y tế quốc gia. Phân tích các dữ liệu giám sát CLCS có thể phân nhóm các đối tượng dựa vào tình trạng sức khỏe, hướng dẫn can thiệp để cải thiện tình trạng của họ và ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng hơn. Giải thích và công bố những dữ liệu này có thể giúp xác định các nhu cầu cho chính sách y tế và pháp 9 luật, giúp phân bố nguồn lực, hướng dẫn xây dựng kế hoạch chiến lược và theo dõi hiệu quả của các can thiệp cộng đồng rộng lớn.
Đánhgiá các lĩnh vực của chất lượng cuộc sống mà những lĩnh vực này thích hợp với nhiều tình trạng sức khoẻ khác nhau như: khoẻ mạnh, bệnh lý cấp tính, bệnh lý mãn tính.