CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu cột sống cổ 1. Giải phẫu cột sống cổ Cột sống cổ có 7 đốt, từ C1 đến C7, có đường cong ưỡn ra trước, đốt C1 (đốt đội) không có thân đốt, đốt C7 có mỏm gai dài nhất sờ thấy rõ, lồi ngay dưới da nhất là khi cúi cổ, nên dùng để làm mốc xác định các đốt sống cổ[35]. Hình ảnh đốt sống cổ [35].
Đặc điểm của xương cột sống: - Thân đốt sống: đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau, mặt bên có hai phình bên gọi là mỏm móc hay mấu bán nguyệt. Mặt dưới có hai mỏm bên ứng với phần bên của đốt sống dưới, phần trước dầy hơn phần sau. - Cuống: tròn và dầy, dính ở phần sau mặt bên thân đốt sống. - Mảnh: rộng bề ngang hơn bề cao.
- Mỏm ngang: dính vào thân và hai cuống bởi hai rễ, trong đó lỗ ngang cho động mạch đốt sống đi qua (trừ đốt C7). Đỉnh của mỏm ngang tách làm hai củ: củ trước và củ sau [35]. - Mỏm khớp: diện khớp phẳng rộng, diện của mỏm trên nhìn lên trên, ra sau, diện của mỏm dưới nhìn xuống dưới, ra trước. 4 - Gai sống: đỉnh của gai sống tách ra làm hai củ, gai sống dài dần từ C2 đến C7 [35].
- Lỗ đốt sống: to dần từ đốt C1 đến C5 và nhỏ dần ở đốt C6 đến C7. Khi khớp gian đốt sống bị thoái hoá, các gai xương thường làm hẹp lỗ gian đốt sống và chèn ép vào rễ thần kinh [7] Hình 1. Hình ảnh thoái hóa đốt sống cổ [7] 1. Chức năng cột sống cổ: Chức năng chịu tải trọng và bảo vệ tủy Cột sống cổ gồm các thân đốt sống nhỏ, đĩa đệm không chiếm toàn bộ bề mặt thân đốt, do đó tải trọng tác động phần lớn lên đĩa đệm dẫn tới sự giảm chiều cao gian đốt.
Khoang gian đốt C2-C3, C5-C6 là những nơi chịu tải trọng lớn nhất ở cột sống cổ, do đó hay gặp thoái hóa ở những đoạn đốt sống cổ này. Cột sống cổ còn là nơi bảo vệ tủy và các thành phần khác trong ống sống [11], [7] Chức năng vận động Cột sống cổ có phạm vi vận động rất lớn. Đoạn cổ trên (C1-C3) đáp ứng cho chuyển động xoay, thường ít gặp thoái hóa ở đoạn này. Các khớp đốt sống cổ cho phép chuyển động trượt giữa các thân đốt sống tạo nên vận động duỗi và gấp cột sống cổ.
Các cử động của cột sống cổ bao gồm: 5 - Cử động theo mặt phẳng trước sau: cúi và ngửa cổ. Động tác này được thực hiện ở ba phần, đơn thuần chỉ xảy ra ở xương chẩm và đốt đội. Còn lại là vai trò của các khớp đốt sống khác từ C2 đến C7[7], [8] - Cử động theo mặt phẳng ngang: nghiêng sang hai bên phải, trái. - Cử động quay cổ: động tác này chủ yếu do khớp trục đội (C1-C2) đảm nhiệm còn lại là sự tham gia của các đốt sống từ C2 đến C7 [7], [8] 1.
Hội chứng cổ vai tay: 1. Khái niệm: Hội chứng cổ vai tay (Cervical scapulohumeral syndrome), còn gọi là hội chứng vai cánh tay (Scapulohumeral syndrome) hay bệnh lý rễ tủy cổ (Cervical radiculopathy), bao gồm một nhóm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến các bệnh lý cột sống cổ có kèm theo các rối loạn chức năng rễ, dây thần kinh cột sống cổ và/hoặc tủy cổ, không liên quan tới bệnh lý viêm. Biểu hiện lâm sàng thường gặp là đau vùng cổ, vai và một hoặc hai bên tay, kèm theo có thể gặp một số rối loạn cảm giác và/hoặc vận động tại vùng chi phối của rễ, dây thần kinh cột sống cổ bị ảnh hưởng [6], [8], [24]. Nguyên nhân: - Nguyên nhân thường do thoái hóa cột sống cổ hoặc thoát vị đĩa đệm cột sống cổ gây nên, trong đó thoái hóa cột sống cổ là nguyên nhân chủ yếu.
Thoái hóa cột sống cổ là bệnh lý mạn tính khá phổ biến, tiến triển chậm, thường gặp ở người lớn tuổi và/hoặc liên quan đến tư thế vận động. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa của sụn khớp và đĩa đệm, những thay đổi ở phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch [50]. Có thể gặp thoái hóa ở bất kỳ đoạn nào, tuy nhiên đoạn từ C4-C7 là hay gặp nhất [8], [24], thoái hóa cột sống cổ, thoái hóa các khớp liên đốt và liên mỏm(70- 80%). - Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ (20-25%), đơn thuần hoặc phối hợp với thoái hóa cột sống cổ [24].
- Các nguyên nhân ít gặp khác bao gồm chấn thương, khối u, nhiễm trùng, loãng xương, bệnh lý về viêm cột sống và phần mềm cạnh cột sống [8], [24]. Cơ chế gây ra hội chứng cổ vai tay: 6 Thoái hóa cột sống cổ, thoái hóa các khớp liên đốt và liên mỏm bên làm hẹp lỗ tiếp hợp, gây chèn ép rễ dây thần kinh cột sống cổ tại các lỗ tiếp hợp. Trong một số trường hợp hội chứng cổ vai tay là do bản thân bệnh lý cột sống cổ gây đau cổ đồng thời lan ra vai hoặc tay, mà không có bệnh lý về rễ dây thần kinh cổ [24], [50]. Các triệu chứng lâm sàng: HC cổ vai cánh tay biểu hiện lâm sàng bằng hai hội chứng chính: * Hội chứng cột sống cổ: Đau vùng cổ gáy.
Điểm đau cột sống cổ khi ấn vào các gai sau, cạnh cột sống cổ. Hạn chế vận động cột sống cổ [7], [24]. * Hội chứng rễ thần kinh: - Đau âm ỉ tăng từng cơn, từ vùng gáy lan lên vùng chẩm và xuống vai hoặc cánh tay, bàn tay. - Rối loạn vận động, cảm giác kiểu rễ.
- Một số nghiệm pháp đánh giá tổn thương rễ thần kinh cổ: Dấu hiệu bấm chuông, nghiệm pháp Spurling, nghiệm pháp dạng vai, nghiệm pháp kéo giãn cổ [1], [24]. * Các triệu chứng khác: Hội chứng động mạch sống nền. Có thể có các rối loạn thần kinh thực vật [1], [24]. Cận lâm sàng - X-Quang cột sống cổ: cho thấy các hình ảnh: gai xương; hẹp khoang gian đốt sống, hẹp lỗ tiếp hợp (tư thế chếch ¾); đặc xương dưới sụn, phì đại mấu bán nguyệt và mất đường cong sinh lý cột sống cổ [75] - Chụp cộng hưởng từ (MRI) CS cổ: trong THCS cổ cho thấy các hình ảnh tổn thương như phim X-quang; phì đại các dây chằng dọc, vị trí tổn thương rễ thần kinh, hình ảnh thoát vị, mức độ thoát vị, khối u.[32] - Chụp cắt lớp vi tính: Chụp cắt lớp vi tính đơn thuần có thể được chỉ định khi không có MRI hoặc chống chỉ định chụp MRI.
[32] - Xạ hình xương: Khi nghi ngờ ung thư di căn hoặc viêm đĩa đệm đốt sống, cốt tủy viêm. - Điện cơ: Có thể giúp phát hiện tổn thương nguồn gốc thần kinh và phân biệt bệnh lý tủy cổ với bệnh lý rễ và dây thần kinh ngoại biên [1], [24]. Điều trị hội chứng cổ vai cánh tay do thoái hóa cột sống 7 * Các biện pháp không dùng thuốc: - Giáo dục bệnh nhân, thay đổi thói quen sinh hoạt, công việc… - Bất động cột sống cổ (giai đoạn cấp). - Tập vận động cột sống cổ, vai, cánh tay với các bài tập thích hợp.
- Vật lý trị liệu: Liệu pháp nhiệt, kích thích điện, siêu âm liệu pháp, xoa bóp, kéo giãn cột sống [1], [37]. * Dùng thuốc: Thuốc giảm đau; thuốc giãn cơ; thuốc giảm đau thần kinh; vitamin nhóm B hoặc dẫn chất B12; các thuốc chống thoái hóa tác dụng chậm [19], [26]. * Điều trị ngoại khoa: - Một số chỉ định: Đau nhiều song điều trị nội khoa ít có kết quả, có tổn thương thần kinh nặng và tiến triển, có chèn ép tủy cổ đáng kể. - Một số phương pháp phẫu thuật chủ yếu: Chỉnh sửa cột sống để giải phóng chèn ép thần kinh tại các lỗ tiếp hợp bị hẹp, lấy nhân nhày đĩa đệm thoát vị, làm dính và vững cột sống [24], [26].
* Các phương pháp khác: Tiêm corticosteroid ngoài màng cứng; phong bế rễ thần kinh; đốt thần kinh cạnh hạch giao cảm cổ bằng sóng cao tần (radio frequency ablation, RFA)… [26]. Biến chứng của hội chứng cổ vai cánh tay - Khả năng vận động cột sống cổ có thể bị co cứng hoặc khó khăn trong việc vận động. - Rối loạn cảm giác và rối loạn vận động nặng: Tình trạng này dễ xảy ra ở những người có tủy cổ hoặc rễ bị chèn ép nặng có thể gây liệt vận động, cảm giác [23]. Chăm sóc và Phục hồi chức năng: 1.
Phục hồi chức năng * Mục đích của PHCN - Hoàn trả lại một cách tối đa các chức năng đã bị giảm hoặc bị mất cho người bệnh, tăng cường khả năng còn lại của họ để giảm hậu quả của tàn tật. - Tác động làm thay đổi tích cực suy nghĩ, thái độ của xã hội, tạo nên sự chấp nhận của xã hội đối với người tàn tật, coi họ như một thành viên bình đẳng trong cộng đồng. 8 - Tác động làm cải thiện các điều kiện nhà ở, nơi làm việc, nơi công cộng, cầu cống, đường xá, trường học. - Tạo việc học hành vui chơi và công việc làm ăn cho người khuyết tật, lôi kéo bản thân người khuyết tật, gia đình và cộng đồng tham gia vào quá trình phục hồi.
- Làm cho người khuyết tật thích ứng tối đa với hoàn cảnh của họ, làm cho xã hội ý thức được trách nhiệm của mình để người khuyết tật có cuộc sống độc lập ở gia đình và cộng đồng [37], [67]. * Nguyên tắc của PHCN - Đánh giá cao vai trò của người khuytết tật, gia đình họ và cộng đồng trong chương trình phục hồi chức năng. - Đánh giá đúng tình trạng khuyết tật và sức khỏe của người bệnh để có chỉ định tập luyện phục hồi đúng lúc, đúng mức phù hợp với từng người bệnh để có kết quả phục hồi tốt nhất. - Phục hồi sớm, song song với quá trình điều trị để giúp người bệnh chóng phục hồi sức khỏe, tránh được các thương tật thứ cấp và rút ngắn thời gian điều trị cũng như phục hồi ở giai đoạn sau.
- Phải luôn luôn khiến người bệnh hoạt động vì hoạt động đem lại sức khỏe, trái lại, bất động làm cơ thể suy yếu. Điều quan trọng nhất là không giúp đỡ người bệnh khi người đó có thể tự giúp lấy mình, vì khi được làm thay mọi công việc cho người bệnh thì người bệnh sẽ mất tự tin, tính độc lập và luôn ỷ vào người khác. Như vậy người bệnh không tích cực hoạt động và sẽ làm chậm quá trình phục hồi [37], [89]. * Các phương pháp PHCN (Phương pháp không dùng thuốc) - Giáo dục người bệnh, thay đổi thói quen sinh hoạt, công việc (tư thế ngồi làm việc, sử dụng máy tính, …).