Tổng quan nghiên cứu

Glôcôm là một bệnh lý thần kinh thị giác tiến triển, gây tổn thương tế bào hạch võng mạc và đầu dây thần kinh thị giác, thường liên quan đến tăng nhãn áp. Trên toàn cầu, ước tính có khoảng 76 triệu người mắc bệnh glôcôm vào năm 2020, dự kiến tăng lên 111,8 triệu người vào năm 2040, chủ yếu do sự gia tăng dân số người cao tuổi – yếu tố nguy cơ chính của bệnh. Tại Việt Nam, tỉ lệ mù hai mắt do glôcôm chiếm khoảng 6,4%, tương đương với khoảng 329.300 người mù do bệnh này. Bệnh glôcôm là nguyên nhân gây mù đứng thứ hai sau đục thể thủy tinh ở các nước đang phát triển, với đặc điểm mù lòa không hồi phục nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.

Mặc dù có thể phòng tránh mù lòa do glôcôm bằng cách sàng lọc phát hiện sớm và quản lý điều trị hiệu quả, nhưng phần lớn người bệnh không được chẩn đoán kịp thời. Tỉ lệ bệnh nhân không biết mình mắc bệnh glôcôm lên đến trên 90% ở các nước đang phát triển. Tại thành phố Huế, tỉ lệ mắc glôcôm ở người trên 40 tuổi là khoảng 5,4%, trong đó hơn 60% bệnh nhân lần đầu được chẩn đoán, cho thấy sự hạn chế trong việc sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt (CSM) trong bệnh glôcôm.

Nghiên cứu nhằm mục tiêu mô tả tỉ lệ hiện mắc glôcôm và tình hình sử dụng dịch vụ CSM trong bệnh glôcôm ở người dân trên 40 tuổi tại thành phố Huế năm 2017, đồng thời xây dựng và đánh giá mô hình can thiệp tăng cường sử dụng dịch vụ CSM. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại thành phố Huế trong giai đoạn 2017-2019. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, cải thiện hành vi sử dụng dịch vụ CSM, góp phần phát hiện sớm, điều trị kịp thời và bảo tồn thị lực cho bệnh nhân glôcôm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết và mô hình sau:

  • Mô hình Precede và Proceed: Đây là mô hình 8 giai đoạn giúp chẩn đoán nguyên nhân hành vi và lập kế hoạch can thiệp thay đổi hành vi sức khỏe. Mô hình phân tích các yếu tố tiền đề (kiến thức, thái độ, thực hành), yếu tố làm dễ (tính sẵn có của dịch vụ), và yếu tố tăng cường (vai trò cán bộ y tế, cộng tác viên, các tổ chức xã hội) để thiết kế can thiệp phù hợp.

  • Khung lý thuyết sử dụng dịch vụ y tế: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ y tế gồm nguồn lực (nhân lực, cơ sở vật chất), tổ chức (đầu vào, cấu trúc), đặc điểm quần thể (khuynh hướng, điều kiện, nhu cầu), và các đặc điểm dịch vụ (loại hình, địa điểm, mục đích, thời gian).

Các khái niệm chính bao gồm: glôcôm nguyên phát và thứ phát, nhãn áp, sàng lọc phát hiện sớm, hành vi sức khỏe, truyền thông giáo dục sức khỏe (GDSK), và mô hình can thiệp cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm xác định tỉ lệ hiện mắc glôcôm và tình hình sử dụng dịch vụ CSM trong bệnh glôcôm ở người dân trên 40 tuổi tại thành phố Huế. Cỡ mẫu tối thiểu là 1776 người, được chọn ngẫu nhiên từ dân số trên 40 tuổi có hộ khẩu thường trú tại địa bàn nghiên cứu. Thời gian thực hiện từ tháng 01/2017 đến tháng 7/2017.

  • Giai đoạn 2: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng nhằm xây dựng và đánh giá hiệu quả mô hình can thiệp tăng cường sử dụng dịch vụ CSM trong bệnh glôcôm. Mô hình can thiệp dựa trên các yếu tố tiền đề, làm dễ và tăng cường được xác định từ giai đoạn 1. Thời gian triển khai và đánh giá từ tháng 8/2017 đến tháng 12/2019.

Phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả, phân tích hồi quy logistic đa biến để xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành và sử dụng dịch vụ CSM. Cỡ mẫu được tính toán dựa trên tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ sử dụng dịch vụ, đảm bảo độ tin cậy 95% và sai số dự tính phù hợp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Tỉ lệ hiện mắc glôcôm: Tỉ lệ mắc glôcôm ở người trên 40 tuổi tại thành phố Huế là 5,4%, trong đó có khoảng 61,5% bệnh nhân lần đầu được chẩn đoán, cho thấy phần lớn bệnh nhân chưa biết về tình trạng bệnh của mình.

  2. Kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) về glôcôm: Hơn 80% người dân chưa từng nghe thông tin về bệnh glôcôm. Tỉ lệ người có kiến thức tốt về glôcôm dưới 10%, thái độ tích cực chiếm khoảng 40%, và thực hành khám mắt định kỳ rất thấp, chỉ khoảng 20%.

  3. Sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm: Tỉ lệ người dân trên 40 tuổi sử dụng dịch vụ khám sàng lọc glôcôm chỉ đạt khoảng 33%. Tỉ lệ bệnh nhân glôcôm tuân thủ điều trị và tái khám định kỳ thấp, dưới 30%.

  4. Hiệu quả mô hình can thiệp: Sau 2 năm triển khai mô hình can thiệp dựa trên truyền thông giáo dục sức khỏe, đào tạo cán bộ y tế cơ sở và tăng cường sàng lọc tại tuyến y tế cơ sở, tỉ lệ sử dụng dịch vụ khám sàng lọc glôcôm tăng lên 55%, kiến thức và thái độ của người dân cải thiện đáng kể (tăng 25% kiến thức tốt, 30% thái độ tích cực), và tỉ lệ tuân thủ điều trị tăng lên 45%.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc glôcôm tại Huế tương đồng với các nghiên cứu trong khu vực miền Trung và Việt Nam, đồng thời phản ánh thực trạng hạn chế trong nhận thức và sử dụng dịch vụ CSM. Việc hơn 60% bệnh nhân lần đầu được chẩn đoán khi bệnh đã tiến triển nặng cho thấy sự thiếu hiệu quả trong sàng lọc và phát hiện sớm.

Mô hình can thiệp dựa trên mô hình Precede và Proceed đã giúp xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ, từ đó thiết kế các giải pháp phù hợp. Việc đào tạo cán bộ y tế cơ sở và phối hợp với các tổ chức cộng đồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận dịch vụ sàng lọc và điều trị sớm.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, tỉ lệ sử dụng dịch vụ CSM sau can thiệp tại Huế đã cải thiện rõ rệt, tuy nhiên vẫn còn thấp so với các nước phát triển. Điều này phản ánh những hạn chế về nguồn lực, trang thiết bị và nhận thức cộng đồng. Biểu đồ phân bố tỉ lệ sử dụng dịch vụ trước và sau can thiệp có thể minh họa rõ sự thay đổi tích cực này.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe về glôcôm: Triển khai các chương trình truyền thông đa dạng, sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng và mạng lưới cộng đồng nhằm nâng cao kiến thức và thay đổi thái độ của người dân về bệnh glôcôm. Mục tiêu tăng tỉ lệ người dân biết về glôcôm lên trên 70% trong vòng 2 năm. Chủ thể thực hiện: Sở Y tế, Trung tâm Y tế thành phố, các tổ chức xã hội.

  2. Đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ y tế cơ sở: Tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về khám sàng lọc glôcôm, sử dụng thiết bị đo nhãn áp và soi đáy mắt cho cán bộ y tế tuyến xã, phường. Mục tiêu 100% cán bộ y tế cơ sở được đào tạo trong 1 năm. Chủ thể thực hiện: Bệnh viện Mắt, Trung tâm Y tế thành phố.

  3. Phát triển mô hình sàng lọc glôcôm tại tuyến y tế cơ sở: Trang bị thiết bị cơ bản như máy đo nhãn áp, đèn soi đáy mắt và xây dựng quy trình sàng lọc, chuyển tuyến kịp thời. Mục tiêu tăng tỉ lệ sàng lọc glôcôm tại tuyến xã lên 50% trong 3 năm. Chủ thể thực hiện: Sở Y tế, Trung tâm Y tế, UBND các phường, xã.

  4. Xây dựng hệ thống quản lý và theo dõi bệnh nhân glôcôm: Áp dụng phần mềm quản lý bệnh nhân glôcôm tại các tuyến y tế, đảm bảo theo dõi, nhắc nhở tái khám và tuân thủ điều trị. Mục tiêu giảm tỉ lệ bỏ tái khám xuống dưới 20% trong 2 năm. Chủ thể thực hiện: Bệnh viện Mắt, Trung tâm Y tế thành phố.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ y tế cơ sở và chuyên khoa mắt: Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và mô hình can thiệp thực tiễn giúp nâng cao năng lực khám sàng lọc và quản lý bệnh glôcôm tại tuyến y tế cơ sở.

  2. Nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách: Thông tin về tỉ lệ mắc bệnh, thực trạng sử dụng dịch vụ và mô hình can thiệp giúp xây dựng chính sách y tế phù hợp, phân bổ nguồn lực hiệu quả.

  3. Các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng: Tài liệu tham khảo để triển khai các chương trình truyền thông, giáo dục sức khỏe và hỗ trợ bệnh nhân glôcôm trong cộng đồng.

  4. Sinh viên và nghiên cứu sinh ngành y tế công cộng, nhãn khoa: Cung cấp kiến thức chuyên sâu về dịch tễ, hành vi sức khỏe và phương pháp nghiên cứu can thiệp cộng đồng trong lĩnh vực glôcôm.

Câu hỏi thường gặp

  1. Glôcôm là gì và tại sao cần phát hiện sớm?
    Glôcôm là bệnh lý thần kinh thị giác tiến triển gây tổn thương không hồi phục. Phát hiện sớm giúp điều trị kịp thời, bảo tồn thị lực và ngăn ngừa mù lòa.

  2. Ai là đối tượng có nguy cơ cao mắc glôcôm?
    Người trên 40 tuổi, có tiền sử gia đình mắc glôcôm, bệnh lý tăng huyết áp, đái tháo đường, hoặc sử dụng corticosteroid lâu dài có nguy cơ cao.

  3. Tại sao người dân ít sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm?
    Nguyên nhân chính là thiếu kiến thức, thái độ chưa đúng về bệnh, hạn chế tiếp cận dịch vụ do cơ sở vật chất và nhân lực y tế cơ sở còn yếu.

  4. Mô hình can thiệp nào hiệu quả để tăng sử dụng dịch vụ CSM?
    Mô hình dựa trên truyền thông giáo dục sức khỏe, đào tạo cán bộ y tế cơ sở và phát triển sàng lọc tại tuyến y tế cơ sở đã chứng minh hiệu quả trong nghiên cứu.

  5. Làm thế nào để duy trì tuân thủ điều trị glôcôm?
    Cần có hệ thống quản lý bệnh nhân, nhắc nhở tái khám, tư vấn liên tục và hỗ trợ từ cán bộ y tế cơ sở để bệnh nhân hiểu và tuân thủ điều trị.

Kết luận

  • Tỉ lệ mắc glôcôm ở người trên 40 tuổi tại thành phố Huế là 5,4%, với phần lớn bệnh nhân chưa biết bệnh và chưa được điều trị kịp thời.
  • Kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về glôcôm còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt.
  • Mô hình can thiệp dựa trên truyền thông giáo dục sức khỏe, đào tạo cán bộ y tế cơ sở và phát triển sàng lọc tại tuyến y tế cơ sở đã nâng cao đáng kể tỉ lệ sử dụng dịch vụ và tuân thủ điều trị.
  • Cần tiếp tục mở rộng và duy trì mô hình can thiệp, đồng thời tăng cường trang thiết bị và nhân lực tại tuyến y tế cơ sở để phát hiện và quản lý bệnh glôcôm hiệu quả.
  • Khuyến nghị các cơ quan y tế và cộng đồng phối hợp triển khai các giải pháp nhằm giảm gánh nặng mù lòa do glôcôm, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

Hành động tiếp theo: Đẩy mạnh truyền thông, đào tạo cán bộ y tế, trang bị thiết bị sàng lọc và xây dựng hệ thống quản lý bệnh nhân glôcôm tại tuyến y tế cơ sở. Mời các nhà quản lý, cán bộ y tế và tổ chức cộng đồng tham gia triển khai mô hình can thiệp để bảo vệ thị lực cộng đồng.