CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG: Rủi ro trong ngân hàng ngày nay đang là một vấn đề nan giải và nghiêm trọng của thị trường tài chính trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng quạ vụ việc của SCB. Nên đã có xu hướng về sự tăng lên của số lượng nghiên cứu về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng ở khắp nơi trên thế giới. Các nghiên cứu về Các yếu tố như lãi suất và chấp nhận rủi ro ngân hàng ở (Delis & Kouretas, 2010), quy định và cạnh tranh (Agoraki & cộng sự, 2009), các nghiên cứu về yếu tố quản trị như khả năng của hội đồng quản trị, quyền hạn của Giám đốc điều hành và việc chấp nhận rủi ro ngân hàng của (Pathans, 2009). Ngoài ra còn có các nghiên cứu xem xét các yếu tố nhân khẩu học như sự tham gia của các giới tính khác nhau trong hội đồng quản trị tác động đến hiệu suất nói chung, ví dụ, (Adams và Ferreira, 2009; Ahern & Dittmar, 2010; (Adams & Funk, 2011).
Xu hướng nghiên cứu tập trung vào việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng gia tăng có bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế thế giới. Một quan điểm được nhiều người tin rằng: lý do quan trọng nhất hoặc một phần lý do quan trọng dẫn đến tình trạng dễ bị tổn thương của ngân hàng trong cuộc khủng hoảng là do một số ngân hàng tích tụ rủi ro quá mức trước khủng hoảng, dẫn đến sự sụp đổ (Brunnermeier, 2009; DeYoung & cộng sự 2013). Đi sâu hơn vào quan điểm này, đã và đang tồn tại các thảo luận lớn hơn về việc quản trị công ty hay cụ thể hơn là sự yếu kém của hội đồng quản trị đã không bảo vệ được các ngân hàng và làm cho khu vực ngân hàng dễ bị tổn thương trước khủng hoảng. Vì lý do đó, nghiên cứu của (Kashyap & cộng sự, 2008; Kirkpatrick, 2009) đặt ra các câu hỏi về việc liệu hội đồng quản trị ngân hàng có thể giám sát và kiểm soát hiệu quả việc quản trị rủi ro của ngân hàng hay không, liệu các giám đốc điều hành có được trả lương quá nhiều để khuyến khích việc chấp nhận rủi ro để gia tăng giá trị của cổ đông của các ngân hàng hay không và liệu hệ thống quản lý không đủ tốt để phát hiện và ngăn chặn việc sụp đổ của các ngân hàng.
Do đó, việc tìm hiểu cấu trúc hội đồng quản trị cũng như ảnh hưởng có thể có của nó đối với việc chấp nhận rủi ro ngân hàng là một câu hỏi nghiên cứu rất quan trọng. Hội đồng quản trị được biết đến thể chế kiểm soát toàn bộ quản trị nội bộ của một tổ chức và được các cổ đông coi là tuyến phòng thủ đầu tiên hoặc là giải pháp thứ hai để giám sát hoạt động kém hiệu quả theo (Hermalin &Weisbach, 2003). Tương tự, các vấn đề về quản trị ngân hàng kém thậm chí còn gây ra chi phí và hậu quả nghiêm trọng đến ngân hàng. Điều này là do các ngân hàng được biết đến là đơn vị kinh tế “đặc biệt” do có vai trò đặc biệt trong trung gian tài chính, trong hệ thống thanh toán, thanh khoản, thông tin, kỳ hạn và chuyển đổi mệnh giá.
Các ngân hàng cũng có ảnh hưởng rất quan trọng đối với các công ty phụ thuộc vào ngân hàng vì họ đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát quản lý của những công ty đi vay, chẳng hạn như bằng cách giảm việc quản lý thu nhập của người đi vay theo (Ahn & Choi, 2009). Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của (Flannery, 1998) các ngân hàng được quản lý chặt chẽ hơn để tránh những tác động tiêu cực từ bên ngoài, từ bất kỳ “rủi ro hệ thống” nào cũng như để bảo vệ lợi ích của những khách hàng 1 gửi tiền ở ngân hàng. Trên thực tế, các nghiên cứu gần đây cho kết quả rằng quản trị ngân hàng kém gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến cho xã hội theo (Hau & Thum, 2009). Trong lĩnh vực ngân hàng, việc quản trị ngân hàng khác với quản trị của các công ty phi tài chính, mà tại đó không chỉ cổ đông và người thành lập, mà cả các cơ quan quản lý cũng có lợi ích riêng của họ.
Sau những hậu quả lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính gần đây vào năm 2008 và mới đây là ngân hàng SVB tại Mỹ, một chủ đề đang được tranh luận giữa các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý, chủ ngân hàng trung ương và các học giả về cách cải thiện quản trị trong ngân hàng, và điều gì thúc đẩy việc chấp nhận rủi ro trong ngân hàng theo (Laeven & Levine, 2009). Mặc dù có rất nhiều lý do giải thích tại sao các ngân hàng chấp nhận rủi ro quá mức, ví dụ, việc trả lương cho các giám đốc điều hành, các vấn đề về đạo đức, rủi ro phát sinh từ bảo hiểm tiền gửi và coi nhẹ về khả năng thất bại của nhiều ngân hàng, đặc biệt là những ngân hàng lớn có nhiều vốn., Nghiên cứu của này nhằm bổ sung một khía cạnh mới cho tài liệu này bằng cách tìm hiểu thêm về cách các yếu tố nhân khẩu học và cấu trúc hội đồng quản trị ảnh hưởng đến việc ra quyết định và lựa chọn các hoạt động manh tính rủi ro trong tài chính doanh nghiệp nói chung và tài chính ngân hàng nói riêng. Vì có rất ít thông tin về tác động của thành phần Hội đồng quản trị đối với việc chấp nhận rủi ro. Vì vậy, nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của tính chất thành phần hội đồng quản trị và việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng ở Việt Nam.
Mặc dù đã có các nghiên cứu hiện nay về chủ đề chấp nhận rủi ro ngân hàng, hầu hết chúng được thực hiện ở các nước phát triển, nơi các ngân hàng phải áp dụng các tiêu chuẩn và phương pháp đo lường chặt chẽ hơn như yêu cầu của Ủy ban BASEL. Ngoài ra, có rất ít các nghiên cứu được tiến hành ở Việt Nam. Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam còn thiếu các hệ thống đánh giá rõ ràng khiến chúng trở nên không đáng tin cậy và khó đo lường. Việt Nam là một nước đang phát triển với 100 ngân hàng đang hoạt động: 39 ngân hàng thương mại trong nước (4 ngân hàng lớn là 100% vốn nhà nước hoặc nhà nước nắm giữ đa số) 61 ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 2 ngân hàng liên doanh.
Do nghiên cứu này chỉ tập trung vào các ngân hàng nội địa của Việt Nam nên nghiên cứu chỉ nhắm mục tiêu đến 39 ngân hàng trong tổng số 102 ngân hàng. Bên cạnh nhóm 4 ngân hàng, rất khó để các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ ở Việt Nam theo kịp các tiêu chuẩn quốc tế (ngay cả nhóm 4 ngân hàng lớn cũng phải trải qua rất nhiều khó khăn để theo kịp tiêu chuẩn) và đó là lý do tại sao Chính phủ Việt Nam đã khuyến khích các ngân hàng áp dụng tiêu chuẩn quốc tế 2 Bảng 1.1Các ngân hàng nội địa của Việt Nam. 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 Ngân hàng thương mại liên doanh 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 do Nhà nước sở hữu Ngân hàng chính sách 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 Ngân hàng thương mại TNHH 2 2 3 4 4 4 4 4 4 4 4 Ngân hàng thương mại 32 32 31 30 30 30 30 30 30 30 30 Trong suốt các năm qua, nhiều ngân hàng tại Việt Nam đã phải trải qua nhiều biến cố như thất bại trong quản trị, vấn đề hiệu quả hoạt động và các thương vụ mua bán, sáp nhập. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên hệ thống quản trị phải là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại các sự kiện dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, ban lãnh đạo đương nhiệm và ban giám đốc phải có trách nhiệm ngăn chặn những sự kiện bất lợi này.
Đây là lý do chính khiến nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của tính chất giữa thành phần hội đồng quản trị và việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng ở Việt Nam. Trong đó nghiên cứu lấy mẫu từ 26 ngân hàng thương mại trong giai đoạn từ 2012 đến 2022 và phân tích ảnh hưởng thành phần hội đồng quản trị hoặc cụ thể hơn là trình độ học vấn, sự tham gia của nữ giới, độ tuổi trung bình, các thành viên độc lập và quy mô hội đồng quản trị lên việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: Nghiên cứu này muốn cung cấp bằng chứng để phục vụ cũng như chứng minh các tác động của thành phần hội đồng quản trị lên việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng ở Việt Nam. Mẫu nghiên cứu được chọn và lọc từ danh sách 39 ngân hàng thương mại trong nước tại Việt Nam giai đoạn 2012-2022 dựa trên các nguyên tắc được nêu lên trong phần dữ liệu và mẫu, từ đó số lượng mẫu rút được là 260 mẫu gồm 26 ngân hàng trong vòng 10 năm. Mục tiêu là tìm ra ảnh hưởng có thể tồn tại giữa cơ cấu quản trị của hội đồng quản trị và việc chấp nhận rủi ro của các ngân hàng, so sánh với các nghiên cứu hiện có về quản trị ngân hàng từ góc độ cơ chế nội bộ hay đơn giản hơn là xem xét sự ảnh hưởng của tính chất hội đồng quản trị và sự chấp nhận rủi ro của ngân hàng.
Thông tin và dữ liệu cho nghiên cứu của bài là dữ liệu thứ cấp và được công bố rộng rãi, dữ liệu trong bài sẽ được tổng hợp từ các trang web sàn giao dịch SmartDragon chứng khoán Rồng Việt, trang web VietstockFinance, trang web CafeF và các báo thường niên. Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được phân loại, xử lý và tính toán dựa trên công thức sẽ nêu trong bài. Kết quả sẽ được phân tích và trình bày với hy vọng sẽ cung cấp thêm chi tiết cho cuộc tranh luận hiện tại và cho các nghiên cứu trong tương lai về chủ đề này về ảnh hưởng thành phần hội đồng quản trị và việc chấp nhận rủi ro của các ngân hàng Việt Nam. 3 Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: 1.
Đặc điểm của HĐQT có ảnh hưởng đến việc chấp nhận rủi ro ở ngân hàng Thương mại Việt Nam hay không? 2. Nếu có thì các đặc điểm này ảnh hưởng ra sao? 1.3 PHẠM VI VÀ QUY MÔ NGHIÊN CỨU: Để thực hiện nghiên cứu này, việc thu thập dữ liệu thứ cấp là rất cần thiết.