CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TINH HINH CONG NO VÀ KHA NĂNG THANH TOÁN CUA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát tình hình công nợ trong các doanh nghiệp 1. Khái niệm công nợ “Công nợ là chỉ tiêu phản ánh nghĩa vụ phải thanh toán của chủ thé là con nợ với người chủ nợ. Chỉ tiệu này trong doanh nghiệp gồm có: công nợ phải trả và công nợ phải thu.
Nó là hai mặt trái ngược của một vấn đề nhưng lại tồn tại đồng thời một cách song song và khách quan với nhau, chúng sẽ có ảnh hưởng đến công tác tài chính trong doanh nghiệp. Công nợ có liên quan và ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp bởi khi bắt đầu thực hiện các mối quan hệ làm ăn buôn bán, các nhà đầu tư, các chủ ngân hàng hay đối tác kinh doanh thường quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp. Phải khang định rang, trong bat cứ một doanh nghiệp hay một tổ chức kinh tế nào bao giờ cũng tồn tại những khoản phải thu đối với con nợ và các khoản phải trả đối với chủ nợ của mình. Công nợ không bao giờ tách khỏi quá trình sản xuất kinh doanh nghiệp, dù doanh nghiệp ở bờ vực phá sản hay đang trên đà tăng trưởng vững mạnh.
Tuy nhiên, tình hình công nợ của các doanh nghiệp là không giống nhau, nó phản ánh tình hình tài chính của các doanh nghiệp thông qua các tỷ suất và các con số tuyệt đối. Liệu doanh nghiệp có phải đối đầu với các khoản công nợ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn không. Doanh nghiệp có tự chủ trong quá trình sản xuất kinh doanh hay không. Vấn đề công nợ thực sự cần đến sự chú tâm của các nhà quản trị tài chính bởi nó ý nghĩa quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp”.
Cơ sở hình thành công nợ “Công nợ luôn là một trong những yếu tố hàng đầu doanh nghiệp quan tâm tới do chỉ tiêu này có liên hệ một cách trực tiếp tới tình hình tài chính của doanh nghiệp và khả năng tự chủ. Ngay từ lúc bước vào quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp thì sẽ phải có một số lượng vốn nhất định tùy thuộc vào những ngành nghề được đăng ký bởi doanh nghiệp. Trong đó số vốn được nắm giữ bởi doanh nghiệp sẽ bao hàm cả nguồn vốn tự có và cả nguồn tín dụng. Việc doanh nghiệp huy động nguồn vốn từ phía bên ngoài sẽ phải có trách nhiệm và nghĩa vụ phải hoàn trả lại cả phần vốn và phần lãi cho các chủ nợ, những tổ chức tín dụng ở thời điểm đã thỏa thuận và được định bởi hai bên.
Do đó mà ngay từ lúc mới bắt đầu, đã xuất hiện những khoản công nợ doanh nghiệp cần phải trả. Những phương thức thanh toán mà đã được doanh nghiệp áp dụng vào trong quá trình hoạt động SXKD về sau là nguyên nhân trực tiếp hình thành nên những khoản công nợ phải thu đối với bạn hàng hay những cá nhân của doanh nghiệp hoặc khoản phải trả của doanh nghiệp cho chủ nợ. Trong trường hợp khoản phải trả của doanh nghiệp lớn nghĩa là doanh nghiệp đang trong tình trạng chiếm dụng vốn của các doanh nghiệp khác. Lúc này, doanh nghiệp sẽ được bổ sung nguồn vốn kinh doanh và nếu việc chiếm dụng vốn của doanh nghiệp là hợp pháp thì nguồn vốn đó có thé dùng dé phục vụ cho các mục đích kinh doanh khác của doanh nghiệp.
Nếu trong trường hợp khoản phải thu của doanh nghiệp lớn có nghĩa doanh nghiệp dang bi chiếm dụng vốn, điều đó sẽ khiến doanh nghiệp gặp những khó khăn nhất định về tài chính, hạn chế trong khả năng thanh toán. Tuy nguồn vốn mà doanh nghiệp bị chiếm dụng hoặc đi chiếm dụng chỉ mang tính chất tạm thời, thời điểm nhưng nó có tác động không hề nhỏ tới tình trạng phá sản của doanh nghiệp một cách nhanh chính khi doanh nghiệp không thu hồi được vốn hoặc con nợ không có khả năng thanh toán”. (Hoàng Hà My, 2014) Tóm lại, những chính sách tín dụng đang áp dụng trong doanh nghiệp chính là những giải pháp huy động vốn,.chính sách này sẽ làm cho doanh nghiệp nảy sinh công nợ, khiến cho các doanh nghiệp phải có trách nhiệm dé sử dụng nguồn vốn sao cho thỏa đáng và phù hợp với tình hình của doanh nghiệp, kết hợp với việc theo dõi sát về tình hình thanh toán công nợ của từng đối tượng. Sự cần thiết của vấn đề phân tích tình hình công nợ trong doanh nghiệp Công nợ là một vấn đề phức tạp nằm trong doanh nghiệp nhưng trong quá trình HDSXKD của doanh nghiệp thì công nợ lại có một vai trò rất quan trọng, trong quá trình này công nợ luôn ton tại.
Những khoản phải trả, khoản phải thu tăng lên, giảm đi có những sự tác động vô cùng lớn trong việc giúp doanh nghiệp thực hiện hoạt động bố trí cơ cấu nguồn vốn vào HDSXKD và nó còn có những ảnh hưởng lớn tới HQKD trong doanh nghiệp. Nguồn sức mạnh về mặt tài chính trong doanh nghiệp cũng có thé thay được thông qua cách doanh nghiệp thực hiện việc bồ trí cơ cau nguồn vốn. Nếu khoản nợ trong doanh nghiệp đang ở mức cao thì mọi HDSXKD trong doanh nghiệp sẽ phải chịu những ảnh hưởng từ những nguồn lực ở bên ngoài, nó có sự phụ thuộc vào chủ nợ rất nhiều, khiến cho nguồn vốn mà doanh nghiệp dùng để phục vụ việc bảo đảm hoạt động SXKD sẽ không thể chủ động được, điều đó sẽ có những ảnh hưởng xấu tới doanh nghiệp và tác động tới KNTT trong doanh nghiệp. Chính vì việc theo dõi nắm bắt tình hình thanh toán cho những khoản nợ phải trả, các khoản phải thu là vô cùng cần thiết cho doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có thê đưa ra những kế hoạch, các chiến lược nhằm điều chỉnh một cách hợp lý cơ cấu tài chính, từ đó có giải pháp tốt nhất dé thực hiện việc thu hồi no được nhanh chóng và dễ dàng, 10 tránh khỏi tình trạng nợ bị quá hạn và khó đòi.
Doanh nghiệp cần nâng cao hiệu quả của HDSXKD cùng với đó là giảm tối đa việc phụ thuộc vào những nguồn lực từ phía bên ngoài, dé bao đảm cho việc thanh toán tốt nhất. Nội dung phân tích tình hình công nợ trong doanh nghiệp 1. Phân tích khái quát về tình tình công nợ *Phân tích tỉ lệ những khoản phải thu so với những khoản phải trả: Để thực hiện việc phân tích về tình hình thanh toán trong doanh nghiệp những nhà phân tích thường đi tính và so sánh giữa những kỳ những chỉ tiêu phản ánh khoản phải trả, phải thu. Ty lệ khoản Tổng các khoản phải thu phải thu so với x 100 khoản phải trả Tổng NPT “ Tổng khoản phải thu bao gốm những khoản phải thu ngắn hạn ( có mã số 130) và những khoản phải thu dài hạn ( có mã số 210), tổng khoản nợ phải trả có mã số 300 trên bảng cân đối kế toán ”.
Tỷ lệ này cho ta biết trong doanh nghiệp quan hệ giữa những khoản phải thu và những khoản phải trả, tỷ lệ này có sự phụ thuộc vào lĩnh vực, đặc điểm về kinh doanh và phụ thuộc vào cả hình thức sở hữu vốn trong doanh nghiệp. Nếu trong trường hợp chỉ tiêu này ở mức cao hơn 100% thì chứng tỏ rang vốn mà doanh nghiệp đang bị chiếm dụng nhiều, và ngược lại trong trường hợp chỉ tiêu này thấp hơn 100% thì vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng sẽ ở mức nhiều hơn, và thực tế là khi chỉ tiêu này cao hơn hay thấp hơn 100% đều thê hiện tình hình tài chính kém lành mạnh ảnh hưởng tới sự uy tín trong doanh nghiệp. *Phân tích chỉ tiêu tỷ lệ vốn đi chiếm dụng và bị chiếm dụng Tỷ lệ vốn đi chiếm Tổng số vốn chiếm dụng dụng và bị = x 100 chiếm dụng Tổng số vốn bị chiếm dụng Chỉ tiêu này ngược với chỉ tiêu tỷ lệ các khoản phải thu so với khoản phải trả và trong cả hai trường hợp nó nhỏ hơn hay lớn hơn cũng đều có tác động đến chất lượng trong DN về tình hình tài chính. Phân tích các khoản phải thu Khoản nợ phải thu: “Là số tài sản của đơn vị nhưng dang bi các tổ chức, tập thể hay cá nhân khác chiếm dụng mà đơn vị có trách nhiệm phải thu hồi.
Thuộc các khoản phải thu ngắn hạn bao gồm khoản phải thu ở người mua, tiền đặt trước cho người bán,khoản phải nộp thừa cho Ngân sách, các khoản phải thu nội bộ”. Nguyễn Thị Đông, 2016) 11 a.Phân tích chỉ tiêu vòng luân chuyển khoản phải thu Vòng luân chuyên khoản phải thu là tỷ số phan ánh tốc độ của việc chuyên đổi những khoản phải thu ra thành tiền mặt trong DN, có nghĩa là đi xem xét trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp những khoản phải thu của DN quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này được xác định là thương của phép chia doanh thu thuần về hoạt động BH&CCDV cho số bình quân khoản phải thu. Tổng doanh thu thuần về BH&CCDV Số vòng quay của khoản phải thu Bình quân khoản phải thu Trong đó, -DTT=DTBH&CCDV + thu nhập HĐTC + thu nhập khác “Doanh thu thuần bán hàng lấy trên bảng báo cáo kết quả HĐKD có mã số 10, thu nhập hoạt động tài chính lấy trên báo cáo HĐKD từ mã số 31, thu nhập khác trên bảng báo cáo KOKD từ mã số 41”. Phải thu KH đầu kỳ + Phải thu KH cuối kỳ - Bình quân khoản phải thu = 2 “Tổng DTT về BH&CCDV được lấy từ chỉ tiêu doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ ( có mã số 10) trên BCKOKD; Phải thu khách hàng bằng tổng các chỉ tiêu có mã số (131) +(241) trên bảng cân đối kế toán”.
Tỷ số này cho chúng ta biết về độ hợp lý ở phần dư của những khoản phải thu và cho việc DN thu hồi nợ có hiệu quả hay không. Trong trường hợp ty số này ở mức càng cao nó sẽ phản ánh càng tốt tốc độ của việc thu hồi nợ càng nhanh chóng , va được đánh giá tốt, lý do là bởi khả năng những khoản phải thu sẽ có thể chuyển đổi càng nhanh hơn và nó sẽ giúp cho việc đáp ứng những nhu cầu về thanh toán, đáp ứng được khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Nhưng nếu trường hợp tỷ số này ở mức quá cao thì cũng là điều không tốt, do điều này sẽ có nghĩa rằng kỳ thanh toán sẽ bị ngắn, chính vì thế có thé dẫn đến sản lượng tiêu thụ bị ảnh hưởng, sẽ làm cho hiệu quả kinh doanh giảm đi.