Phần mở đầu (câu dẫn): trình bày một vấn đề, một câu hỏi hoặc một câu chưa hoàn chỉnh + Phần trả lời (phần lựa chọn): gồm một số câu trả lời hoặc mệnh đề (thường là 4) để trả lời hoặc hoàn chỉnh phần dẫn. Trong số các phương án trả lời chỉ có một phương án đáp ứng đúng yêu cầu của phần dẫn, các phương án khác được đưa vào có tác dụng gây nhiễu cho HS. Các phương án nhiễu phải được xây dựng sao cho đều có vẻ “có lý” và “hấp dẫn” như phương án đúng.3 Các đặc điểm của phương pháp trắc nghiệm - HS phải trả lời các CHTN theo các phương án trả lời cho sẵn, thông thường một câu hỏi chỉ có một phương án là đúng hoặc phù hợp nhất. Như vậy, HS trả lời CHTN theo một khuôn khổ định sẵn, không thể đưa ra ý kiến nào khác của mình.
- Vì thời gian cần thiết để trả lời một CHTN thường rất ngắn nên một đề thi có thể bao gồm rất nhiều câu hỏi, có thể đánh giá bao trùm chương trình của một môn học. - Kiến thức giúp HS lựa chọn đúng các phương án trả lời các CHTN, tuy nhiên HS không có kiến thức cũng có thể “đoán mò” để trả lời. - HS có thể nhận biết kiến thức qua các CHTN chứ không cần phải nhớ lại để trình bày. - Bài kiểm tra trắc nghiệm thường được chấm điểm bằng cách so sánh xem việc chọn phương án đúng của HS có trùng với đáp án cho sẵn hay không một cách máy móc, do đó người chấm điểm không đưa ra quan điểm riêng để đánh giá bài trắc nghiệm.
- Vì được xây dựng trên cơ sở khoa học xác suất thống kê nên trắc nghiệm khách quan có nhiều lý thuyết và công cụ để xử lý định lượng. Do tính định lượng cao của trắc nghiệm khách quan nên có thể nâng cao chất lượng của từng câu hỏi theo các mục tiêu đặt ra.4 Những điều cần lưu ý khi chế tác câu hỏi trắc nghiệm Khi biên soạn các CHTN cần tuân theo các quy tắc sau: - Các quy tắc biên soạn liên quan đến việc cân đối câu hỏi với các mục đích hỏi CHTN phải có dạng thích hợp với phương pháp đánh giá đặt ra. Cần tránh các CHTN khi ta cần đặt các câu hỏi: + Câu hỏi mở + Câu hỏi dành cho việc đánh giá khả năng tóm tắt và hệ thống vấn đề + Câu hỏi đánh giá khả năng tập trung và khả năng sáng tạo. CHTN không được gây trở ngại cho việc học: Trong câu hỏi mà yêu cầu chủ yếu chỉ là ghi nhớ thì cần tránh cho HS sự sao nhãng mục tiêu chính của của câu hỏi.
10 - Quy tắc biên soạn liên quan đến giá trị chuẩn đoán câu trả lời + CHTN cần phải hướng GV đến quá trình suy nghĩ của HS + Các yếu tố gây ra sự sao nhãng trong câu hỏi cần phải chỉ rõ được các lỗi tư duy không chính xác của HS. CHTN cần được xây dựng trên các lỗi HS hay mắc phải. Như vậy, các yếu tố gây sự sao nhãng mới có tác dụng trắc nghiệm khả năng tiếp thu của HS. Loại ghép đôi: + Hướng dẫn rõ về yêu cầu của việc ghép cho phù hợp + Đánh số ở một cột và chữ ở cột kia + Các dòng trên mỗi cột phải tương đương nhau về nội dung, hình thức, ngữ pháp, độ dài + Tránh các câu phủ định + Mỗi cột thường chỉ nên có từ 5 đến 10 ý; các câu chọn để ghép đôi nên nhiều hơn câu gốc 2, 3 ý.
Loại điền khuyết: + Chỉ nên để một chỗ trống + Thiết kế sao cho có thể trả lời bằng một từ đơn nhất mang tính đặc trưng + Cung cấp đủ thông tin để chọn từ trả lời + Chỉ có một lựa chọn là đúng Loại đúng sai: + Câu phát biểu phải hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai, không có ngoại lệ. + Soạn câu trả lời thật đơn giản + Tránh dùng câu phủ định, đặc biệt là phủ định hai lần Loại nhiều lựa chọn: Đối với phần dẫn: + Phần dẫn phải có nội dung rõ ràng và chỉ nên đưa vào một nội dung. + Tránh dùng dạng phủ định; nếu dùng thì phải in đậm chữ “không”. + Nên viết dưới dạng “một phần của câu” 11 + Chỉ dùng dạng “câu hỏi” khi muốn nhấn mạnh.
Đối với phần lựa chọn: + Chỉ nên có 4 phương án lựa chọn, trong đó có một phương án đúng. Trong trường hợp chỉ có thể có 3 phương án lựa chọn thì phải ghi rõ ngay trước phần dẫn là câu này chỉ có 3 phương án trả lời. + Các phương án nhiễu phải có vẻ hợp lý và có sức hấp dẫn HS + Các “phần câu lựa chọn” hoặc các “câu lựa chọn” nên được viết theo cùng một lối hành văn, cùng một cấu trúc ngữ pháp, nghĩa là tương đương về hình thức, chỉ khác nhau về nội dung. + Hạn chế dùng phương án “các câu trên đều đúng” hoặc “các câu trên đều sai” + Không để HS có thể đoán ra câu trả lời dựa vào hình thức trình bày của phần lựa chọn.
+ Sắp xếp các phương án lựa chọn theo thứ tự ngẫu nhiên, tránh thể hiện một ưu tiên nào đối với vị trí của phương án đúng. Đối với cả hai phần: bảo đảm để phần dẫn và phần lựa chọn khi ghép lại phải thành một cấu trúc đúng ngữ pháp và chính tả.5 Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm theo các mức độ nhận thức khác nhau Có thể chế tác các CHTN để đánh giá các mức trí năng từ thấp đến cao. Các CHTN được chế tác để đánh giá các mức độ nhận thức như sau: - Biết: Ở mức độ này chỉ đòi hỏi HS nhớ lại các kiến thức đã thu nhận được - Hiểu: Ở mức độ này kiến thức về các sự kiện, lý thuyết, quá trình… được xem như đã biết và người ta muốn trắc nghiệm xem HS có hiểu kiến thức đó không - Vận dụng: Đối với loại câu hỏi ở mức này phải xem là HS đã biết và hiểu các kiến thức cần thiết làm cơ sở cho câu hỏi, cần trắc nghiệm xem HS có thể áp dụng các điều đã biết và hiểu đó hay không. Các câu hỏi yêu cầu tính toán dựa trên các công thức đã biết là phù hợp với mức độ này.2 Phát huy tính tích cực học tập của HS 1.1 Sự cần thiết phải phát huy tính tích cực học tập của HS 12 Dạy học nhằm phát huy tính tích cực của HS là tư tưởng chủ đạo của việc đổi mới các mô hình dạy học hiện nay.
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT cũng đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”. Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống thói quen học tập thụ động. Đổi mới chương trình và sách giáo khoa đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học với mục đích thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp tích cực”. Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách, có liên quan và phụ thuộc vào các thuộc tính thái độ, nhu cầu và động cơ của chủ thể.
Tính tích cực luôn gắn với hoạt động, nằm trong hoạt động, biểu hiện qua hành động và ảnh hưởng đến kết quả hoạt động. Trong hoạt động nhận thức, tính tích cực làm cho quá trình học tập, tìm tòi, sáng tạo có tính định hướng cao hơn, từ đó con người dễ làm chủ và điều khiển các hoạt động của mình. Hà Thế Ngữ thì tính tích cực hoạt động nhận thức của HS là sự ý thức nhiệm vụ học tập thông qua việc HS hăng say học tập, từ đó tự mình ra sức hoàn thành nhiệm vụ học tập, tự mình khắc phục khó khăn để nắm tri thức một cách tự giác.C Babanxki, tính tích cực trong học tập được hiểu là “sự phản ánh vai trò tích cực của cá nhân HS trong quá trình học”, HS là chủ thể của quá trình học chứ không phải đối tượng thụ động: HS không chỉ tập trung vào việc ghi chép, ghi nhớ đơn giản hay thể hiện sự chú ý mà còn là hoạt động tự lĩnh hội tri thức mới, tự nghiên cứu các sự kiện, rút ra kết luận, khái quát cho dễ hiểu, tự cụ thể hóa nhằm tiếp thu kiến thức mới. Tích cực là phẩm chất vô cùng quan trọng quyết định sự thành công trong 13 mọi loại hoạt động và sự hoàn thiện không ngừng của nhân cách mỗi cá nhân trong quá trình hoạt động thực tiễn.
Tích cực là sản phẩm mà giáo dục có thể đạt được bằng các tác động giáo dục có mục đích, là phẩm chất cần phát huy càng sớm càng tốt ở mỗi người thông qua giáo dục. Giáo dục có thể tạo điều kiện tốt cho việc phát huy tính tích cực và làm cho nó trở thành phẩm chất tốt đẹp của mỗi cá nhân. Tính tích cực là điều kiện cần cho sự phát triển tư duy độc lập và tư duy sáng tạo. Mức độ phát triển của tư duy và óc sáng tạo không thể hoạch định trong mục tiêu giáo dục, không thể đòi hỏi mọi HS cùng đạt tới một chuẩn mực nào đó nhưng dạy học cần tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của hai yếu tố này.
Phương pháp tích cực dựa trên cơ sở tâm lý học cho rằng nhân cách được hình thành thông qua các hoạt động chủ động và sáng tạo, thông qua các hành động có ý thức. Ngày nay, dạy học tích cực có thể xem là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của nhà trường hiện đại và có thể lấy đó để phân biệt với nhà trường truyền thống qua sự so sánh sau đây: Bảng 1.