CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016-2019. Theo mục tiêu của Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030, thì tính đến thời điểm kết thúc năm 2019, về cơ bản các mục tiêu đề ra trong Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 (sau đây gọi tắt là Chiến lược) đều đạt được. Cụ thể, tăng trưởng xuất khẩu vượt mức kế hoạch đề ra, nhập khẩu được kiểm soát, tốc độ tăng bình quân kim ngạch nhập khẩu thấp hơn so với tốc độ tăng bình quân kim ngạch xuất khẩu. Giai đoạn 2016-2019, kinh tế thế giới có nhiều khó khăn, thách thức, ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu.
Kinh tế thế giới phục hồi chậm và có nhiều rủi ro. Tình hình trong nước trong giai đoạn 2016 đến nay có những thuận lợi cơ bản: sự ổn định về chính trị và kinh tế vĩ mô; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; hội nhập quốc tế sâu rộng có tác động tạo ra sự cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư và phát triển sản xuất. Chỉ đến năm 2017, kinh tế thế giới mới bắt đầu phục hồi, thương mại toàn cầu bắt đầu có những diễn biến tích cực mặc dù vẫn đối diện nhiều khó khăn, tiềm ẩn nhiều rủi ro do xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng. Xung đột thương mại Mỹ - Trung từ tháng 4 năm 2018 và diễn biến leo thang căng thẳng đã tác động mạnh đến thương mại toàn cầu, trong đó Việt Nam là nền kinh tế có độ mở cao cũng chịu nhiều tác động.
Ngay từ năm đầu của nhiệm kỳ (2016), Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, khơi dậy nguồn lực phát triển trong toàn xã hội trên tinh thần của một Chính phủ liêm chính, kiến tạo và hành động, với những quyết tâm cao trong cải cách thủ tục hành chính, kiến tạo môi trường kinh doanh, đầu tư thuận lợi, thông thoáng; cùng với đó là sự nỗ lực của các Bộ, ngành trong việc triển khai tích 1 3 0 cực và đồng bộ các giải pháp là sự đồng thuận, hưởng ứng tích cực của toàn dân và doanh nghiệp. Theo đó, tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2016-2019 đạt trung bình 12%/năm, cao hơn mục tiêu 10% do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đề ra. Kim ngạch nhập khẩu cũng có tốc độ tăng trung bình trong giai đoạn 2016-2019 ở mức 11,2%/năm. Như vậy, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của kim ngạch nhập khẩu trong giai đoạn này thấp hơn so với tốc độ tăng bình quân của kim ngạch xuất khẩu (13%), đạt mục tiêu Chiến lược đề ra.
Cán cân thương mại đạt thặng dư trong cả giai đoạn với mức xuất siêu năm sau tăng cao hơn năm trước. Chiến lược đã xác định mục tiêu giảm dần thâm hụt thương mại, kiểm soát nhập siêu khoảng 10% kim ngạch xuất khẩu vào năm 2015 và tiến tới cân bằng cán cân thương mại vào năm 2020. Trên thực tế, từ năm 2016 đến nay, cán cân thương mại luôn đạt thặng dư với mức xuất siêu tăng dần qua các năm, lần lượt là 1,77 tỷ USD (năm 2016), 2,11 tỷ USD (năm 2017), 6,83 tỷ USD (năm 2018), 10,87 tỷ USD (năm 2019). Năm 2019 có tới 31 mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu hơn 1 tỷ USD.
Mục tiêu giá trị xuất khẩu bình quân đầu người đã đạt được yêu cầu đề ra với giá trị xuất khẩu bình quân đầu người năm 2019 đạt khoảng 2.740 USD/người. Về XK hàng hóa của VN năm 2016 vẫn tiếp tục duy trì mức tăng trưởng, đưa thặng dư thương mại hàng hóa đạt 2,68 tỷ USD và kim ngạch XNK của VN đã cán mốc 300 tỷ USD vào ngày 15.2016, là một kết quả nổi trội. Tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) của cả nước năm 2016 ước đạt 175,9 tỷ USD. Mục tiêu giá trị xuất khẩu bình quân đầu người đạt trên 2000 USD theo Chiến lược đề ra đã đạt được từ năm 2017.
Đây là minh chứng cho chất lượng sản xuất, hiệu quả lao động trong nước cũng như sức cạnh tranh quốc gia cũng đang tăng trưởng tốt. VN hiện đã có quan hệ thương mại hàng hóa với 240 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã có trên 29 thị trường XK, 19 thị trường NK đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD. Tổng KNXK hàng hóa của các thị trường này thường chiếm tới 90% KNXK (và 88% KNXK của cả nước). 2 3 0 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2016 – 2019 3.
Khái niệm và chức năng của cán cân thương mại: Hiểu một cách đơn giản thì cán cân thương mại ( balance of trade) là mức chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, hay còn gọi là xuất khẩu ròng. NX (xuất khẩu ròng) = M (nhập khẩu) – X (xuất khẩu) Khi giá trị nhập khẩu lớn hơn giá trị xuất khẩu thì có thể nói nó chính là sự thâm hụt của cán cân thương mại. Đồng thời, nó cũng là một yếu tố giúp cho quốc gia đó có thể thấy được sự thay đổi của xuất nhập khẩu trong một khoảng thời gian nhất định, đồng thời cũng sẽ thấy được sự chênh lệch của chúng. Cụ thể: Cán cân thương mại phần nào thể hiện được cung cầu tiền tệ của một quốc gia, thể hiện được sự thay đổi hối đoái của đồng nội tệ trên đồng ngoại tệ, tức là nó sẽ nói lên được khả năng cạnh tranh của một quốc gia trên thị trường quốc tế.
Giúp chúng ta đưa ra được những kết luận về tình trạng cán cân vãng lai, đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô, điều này rất quan trọng, bởi nó có tầm ảnh hưởng đến cán cân thương mại quốc tế. Vì vậy, quốc gia nào cũng cần sử dụng đến cáng cân thương mại để có thể dễ dàng đưa ra những chính sách cũng như phương án có thể điều chỉnh kịp thời và hiệu quả nhất đảm bảo được nền kinh tế vĩ mô của quốc gia. Tình hình cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2019 2. Tình hình cán cân thương mại của Việt Nam năm 2016 Năm 2016, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức cao với GDP tăng 6,21% so với năm 2015, còn lạm phát được chủ động kiềm chế ở mức 4,74%.
Đóng góp vào thành tích chung của nền kinh tế năm qua không thể không kể đến nỗ lực tăng kim ngạch xuất khẩu trong điều kiện thị trường quốc tế không 3 3 0 thuận lợi và nhất là cán cân thương mại hàng hóa đã chuyển sang thặng dư sau khi bị thâm hụt tương đương 2,2% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2015. Cụ thể: Về xuất khẩu: Tổng cục Thống kê cho biết, năm 2016, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 175,9 tỷ USD, tăng 8,6% so với năm trước - cao hơn so với mức tăng 7,9% của năm 2015 (trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt kim ngạch xuất khẩu 50 tỷ USD, tăng 4,8%, còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 125,9 tỷ USD, tăng 10,2%). Nếu loại trừ yếu tố giá thì kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm qua đạt 179,2 tỷ USD, tăng 10,6% so với năm 2015. Về nhập khẩu: Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2016 chỉ tăng vỏn vẹn 4,6% so với năm 2015, đạt 173,3 tỷ USD (trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 71,1 tỷ USD, tăng 4% và khu vực FDI đạt 102,2 tỷ USD, tăng 5,1%).
Chỉ số giá nhập khẩu năm 2016 còn giảm mạnh hơn tới 5,35% so với năm 2015. Điều này cho thấy cán cân thương mại thặng dư không chỉ do nỗ lực xuất khẩu mà còn nhờ kiềm chế nhập khẩu. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu là 183 tỷ USD, vẫn tăng 10,5% so với năm 2015. Cán cân thương mại hàng hóa năm 2016 đạt thặng dư 2,68 tỷ USD - mức xuất siêu cao nhất từ trước đến nay, cải thiện hơn rất nhiều so với năm 2015.
Thêm vào đó, cán cân vãng lai còn được bổ sung bởi lượng kiều hối khoảng chín tỷ USD vào Việt Nam năm 2016. Cùng với đó, tài khoản vốn của Việt Nam vẫn duy trì thặng dư cao khi tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần của khu vực FDI năm 2016 đạt gần 24,4 tỷ USD, tăng 7,1% so với năm 2015 và vốn FDI năm 2016 đạt mức giải ngân cao nhất từ trước đến nay với 15,8 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2015. Rõ ràng, thặng dư cán cân thương mại hàng hóa kỉ lục năm 2016 chứng tỏ năng lực xuất khẩu nói riêng, quản lí xuất khẩu và nhập khẩu nói chung của Việt Nam đã vượt qua sự bất lợi từ thị trường quốc tế, tiếp tục duy trì sản xuất kinh doanh, góp phần tích cực vào ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế. Tình hình cán cân thương mại Việt Nam năm 2017 4 3 0 Kết quả đạt được trong nửa cuối tháng 12/2017 đã đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước năm 2017 đạt 425,12 tỷ USD , tăng 21% (tương ứng tăng 73,74 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2016.
Cụ thể: Về xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 2017 đạt 214,02 tỷ USD, tăng 21,8% (tương ứng tăng 38,12 tỷ USD) so với năm 2016. Số liê šu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 2 tháng 12/2017 đạt hơn 7,02 tỷ USD, tăng 5,4% (tương ứng tăng 358 triệu USD) so với kỳ 1 tháng 12/2017, qua đó nâng tổng kim ngạch xuất khẩu trong 12 tháng/2017 của nhóm các doanh nghiê pš này lên 152,19 tỷ USD, tăng 22,9% (tương ứng tăng 28,31 tỷ USD) so với năm 2016, chiếm 71,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Về nhập khẩu: Tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước đạt 211,1 tỷ USD, tăng 20,8% (tương ứng tăng 36,3 tỷ USD) so với năm 2016. Trị giá nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ này đạt 5,73 tỷ USD, giảm 4,3% (tương ứng giảm gần 254 triệu USD) so với kỳ 1 tháng của tháng, qua đó nâng tổng kim ngạch nhập khẩu của nhóm các doanh nghiê pš này trong 12 tháng/2017 đạt 126,37 tỷ USD, tăng 23,4% tương ứng tăng 23,94 tỷ USD cùng kỳ năm 2016.
Cán cân thương mại hàng hóa năm 2017 đạt thặng dư 2.