CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC HỒ SÔNG RAY 1. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 1. Phạm vi, vị trí địa lý Hình 1.1: Bản đồ lưu vực hồ sông Ray Lưu vực hồ sông Ray thuộc lưu vực Ven Biển, nằm trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và một phần nhỏ tỉnh Đồng Nai. Phía Bắc giáp với lưu vực sông La Ngà; Phía Tây giáp với lưu vực sông Đồng Nai và lưu vực sông Thị Vải; Phía Nam và phía Đông giáp với lưu vực Ven Biển.
Diện tích tự nhiên của toàn lưu vực là 770 km2 (Hình 1. Công trình đầu mối và lòng hồ thuộc các xã Sơn Bình, huyện Châu Đức và xã 5 Hòa Bình, Hòa Hưng, Bàu Lâm, huyện Xuyên mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và một phần thuộc hai xã Sông Ray và Lâm San, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Tuyến đập chính có bờ trái thuộc xã Hòa Hưng, huyện Xuyên Mộc và bờ phải thuộc xã Xuân Sơn, huyện Châu Đức, cách cầu Sông Ray khoảng 800m về phía Thượng lưu.[6] Tọa độ địa lý : 10o 35’ vĩ bắc 107 o 24’ độ Kinh đông 1. Đặc điểm địa hình Nhìn chung lưu vực hồ sông Ray mang đặc điểm địa hình miền núi thấp độ cao từ 100 đến 300 mét so với mực nước biển.
Đó là phần cuối của miền cao nguyên đất đỏ cực Nam Trung Bộ, thấp dần từ huyện Tân Phú, tỉnh đồng Nai xuống. Xen lẫn giữa dãy đồi núi thấp là núi đá hoa cương như núi Mây cao hơn 700 mét, núi Dinh cao 504 mét, núi Thị Vải cao gần 407 mét. Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng Đó là hệ đất Peralit, chủ yếu trên nền đá của vùng đồi núi thấp. Loại đất này tập trung ở các huyện Tân Thành, Châu Đức, Xuyên Mộc và Côn Đảo.
Xen lẫn trong hệ đất này có đất đỏ Bazan.[8,5] Căn cứ vào địa hình và thổ nhưỡng có thể chia đất thành 7 loại: Đất cát biển nhiễm mặn: phân bố ở Phước Bửu, Bình Châu, Xuyên Mộc phần lớn là các dãy cồn cát trắng, vàng có thể cải tạo trồng các loại cây, tạo môi trường phát triển du lịch. Đất phù sa mới: Phân bố dọc sông Ray, ven những thung lũng rộng do phù sa bồi tụ. Thành phần của loại đất này là cát pha đất thịt nhẹ, tầng mặt thường có màu xám đen nhạt, tầng dưới có màu xám đen và vàng ẩm, hơi chặt và có lẫn sỏi cuội. Đây là loại đất có nhiều tiềm năng về dinh dưỡng, sự phân giải hữu cơ khá mạnh, có thể trồng lúa và nuôi trồng thủy sản.
Đất đỏ bazan: Do nham thạch phun xuất tạo thành. Đất đai màu mỡ có thể trồng các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê, các loại đậu xuất khẩu, cây ăn trái cho năng xuất khá. Nhóm đất đen: Phân bố một phần nhỏ trong lưu vực, tầng mặt màu đen đến nâu, cấu trúc viên xốp hơi ẩm, tầng dưới nâu đen ẩm ướt, chặc nhiều sét hàm lượng 6 hữu cơ cao, giàu lân. Đây là loại đất giàu tiềm năng dinh dưỡng.
Đại bộ phận trồng được lúa, màu, cây công nghiệp ngắn nhất là đậu nành, đậu phộng, thuốc lá cho năng suất cao. Nhóm đất đỏ trên Granites: Hình thành những khối núi đối lập, đỉnh nhọn, độ dốc từ 25-300, đất dưới chân thoải, mặt bằng thường có màu đỏ ít sét, có nhiều hạt thạch anh nên dễ bị rửa trôi. Đây là loại đất có thể khai thác lâm nghiệp. Nhóm đất vàng trên núi phù sa cổ: Có địa hình lượn sóng, ít dốc, hình thành cách đây mấy nghìn năm.
Đất có màu thay đổi từ nâu vàng đến vàng đỏ, thành phần gồm cát pha đất thịt nhẹ lẫn sỏi, thạch anh kết vón tròn, giữ nước kém, dễ hình thành đá ong. Vùng đất kết vón có thể trồng rừng hoặc cây có rễ sâu, chịu hạn (mít, xoài, điều). Nhóm đất xám bạc màu: Có màu xám trắng, xám tro, có thể trồng các loại cây ăn trái, loại cây cạn như mía, mì, bắp ở vùng trũng thấp có thể trồng một vụ lúa. Khoáng sản: Cát trắng Bình Châu đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, là nguồn nguyên liệu quý để sản xuất các mặt hàng thủy tinh tiêu dùng, xuất khẩu.
Thảm phủ thực vật Miền núi thấp của lưu vực hồ sông Ray thuộc hệ núi già, nhưng trong điều kiện khí hậu phù hợp, đây là môi trường tốt để các loại động thực vật sinh sôi phát triển. Rừng nhiệt đới ở đầu rừng sông Ray và ven biển, đất rừng thuộc loại bằng phẳng. Đây là loại rừng kín ẩm, luôn luôn giữ được màu xanh nhiệt đới duy nhất bên bờ biển Đông, có giá trị nghiên cứu sinh thái ở vùng ven biển. Do có đất đỏ Bazan xen lẫn trong hệ đất Peralit thích hợp cho các lợi cây trồng công nghiệp như cao su, chè, cà phê, tiêu, điều,.
và các loại cây ăn quả nhiệt đới. Mạng lưới sông ngòi Sông Ray: Bắt nguồn từ xã Hàng Gòn thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai chảy qua huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa-Vũng Tàu) rồi đổ ra biển Đông tại cửa Bà Đáp giữa 2 huyện Xuyên Mộc và Long Đất với chiều dài 101 km và diện tích lưu vực 1.250 km2; riêng phần chảy qua tỉnh Đồng Nai có diện tích lưu vực 545,07 km2. Đây là con sông có nguồn nước khá dồi dào. Trên dòng chính, hồ Sông Ray đã được khởi công xây dựng trong năm 2005 để phục vụ cấp nước phát triển kinh tế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Hình 1.2: Mạng lưới sông ngòi tỉnh Đồng Nai [9] Sông Ray bao gồm nhiều nhánh sông suối lớn nhỏ chảy vào, nhưng phân bố không đều trên lưu vực.
Phía bờ hữu và một phần hạ bờ tả kể từ sau hợp lưu suối Giàu có nhiều sông suối và phân bố khá đều. Đoạn trung lưu phía bờ tả có rất nhiều các suối và thường nhỏ.[9] Các nhánh chính ở phần thượng lưu gồm suối Gia Liêu, suối Mor Cuom, suối Cát, suối Gia Man. Ở phần trung lưu có các nhánh suối Gia Nách, suối Vọng, suối Sách, suối Lúc, suối Lê, suối Tân Ba, suối Giàu, suối Bà Lú, suối Trong.[9] Các đặc trưng chính của các sông suối nhỏ xung quanh lưu vực hồ sông Ray được tổng hợp và thể hiện ở Bảng 1.1: Đặc trưng chính các sông suối tỉnh Đồng Nai Hệ số Diện L i D Xtb Qtb Mo Yo α TT Tên Lưu Vực tích ∆H km (o/oo) km/km2 mm m3/s l/s/km2 mm Yo/X km2 o 1 S.Đồng Nai (Tà 449,03 12,71 28 2,20 0,20 2661 20,21 45,01 1419 0,53 8 Hệ số Diện L i D Xtb Qtb Mo Yo α TT Tên Lưu Vực tích ∆H km (o/oo) km/km2 mm m3/s l/s/km2 mm Yo/X km2 o Lài) 2 Tà Lài - Trị An 1269,11 75,96 103 1,36 1,60 2359 49,06 38,66 1219 0,52 3 S.La Ngà 1032,75 16,42 27 1,64 1,00 2281 40,12 38,84 1225 0,54 4 Sông Bé 537,46 25,69 68 2,65 0,30 2250 19,51 36,30 1145 0,51 5 S.Thao - Rết - Mây 284,24 38,36 131 3,41 0,30 2041 7,07 24,89 785 0,38 Sông suối nhỏ TP 6 190,59 16,50 5 0,30 0,50 1823 5,58 29,28 924 0,51 Biên Hoà Suối Cả (S.Thị 7 436,53 32,00 87 2,72 1,30 1951 8,91 20,41 644 0,33 Vải) 8 Sông Ray 545,07 38,99 127 3,26 1,10 2014 14,41 26,43 834 0,41 9 Sông Lá Buông 473,86 52,73 109 2,07 1,00 1999 11,31 23,86 753 0,38 HL S.Đồng Nai - 10 235,49 17,45 5 0,29 1,50 1954 4,71 20,00 631 0,32 Thị Vải Suối Gia Ui - 11 208,04 29,87 97 3,25 0,30 2014 5,90 28,34 894 0,44 S.Nước Trong - 12 232,55 21,90 67 3,06 0,70 1942 4,66 20,05 632 0,33 Bưng Môn Toàn tỉnh 5894,73 2188 191,44 32,48 1024 0,47 (Nguồn : Viện quy hoạch thủy lợi miền Nam) 1. ĐẶC ĐIỂM KHÍ TƯỢNG Trên cơ sở xem xét sự đồng đều về số liệu cũng như mức độ ảnh hưởng, liên quan đến việc tính toán các đặc trưng khí tượng của lưu vực, các trạm đo đạc các yếu tố khí tượng liên quan đến lưu vực hồ Sông Ray được lựa chọn bao gồm trạm Xuân Lộc, Lá Buông (trong đó: có trạm Xuân Lộc có quan trắc các yếu tố khí tượng khác như nhiệt độ, bốc hơi, độ ẩm, gió và nắng) phân bố trên lưu vực như Hình 1.3 và như liệt kê trong Bảng 3.
Lưu vực hồ sông Ray nằm trong vùng khí hậu cận xích đạo, gió mùa nóng, ẩm và ổn định quanh năm, ít bão lụt, chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển Đông nên khí hậu ôn hòa, mát mẻ hơn. Nhiệt độ trung bình từ 26 đến 27oC. Biên độ nhiệt dao động thấp, từ 3 đến 5oC. Tháng tư là tháng nóng nhất, nhiệt độ trung bình cũng chỉ vào khoảng 28oC.
Tháng mát nhất là tháng giêng, nhiệt độ trung bình ở mức lý tưởng của vùng Đông Nam Á khoảng 24,5oC.[5] Trong mỗi năm lưu vực có 6 tháng thuộc mùa mưa và 6 tháng mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng X, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây – Nam gây 9 mưa khá lớn, từ 1300 đến 1700 mm. Mùa mưa thuận tiện cho việc sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt. Mùa mưa nhiều nhưng không kéo dài .3: Phân bố trạm đo khí tượng khu vực Hồ Sông Ray Mùa khô từ tháng XI đến tháng IV năm sau, do tác động của gió mùa Đông – Bắc (gió chướng).
Gió mạnh có khi đạt cấp 5 cấp 6 gây khô hanh, thuận tiện cho tắm biển và tham quan, du lịch… Vào mùa này hầu hết các địa phương ở Nam Bộ đều nắng nóng. Vì thế, với những tiện nghi sẵn có, vùng biển Hồ Cốc, Hồ Tràm là điểm hẹn, là sự mong chờ kỳ nghỉ cuối tuần của hàng chục vạn du khách đến từ thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Nam Bộ, của người Việt Nam và nước ngoài.1 Đặc điểm mưa Hàng năm, mùa mưa bắt đầu từ tháng V và kéo dài đến tháng X, khoảng 6 tháng, mùa khô từ tháng XI đến tháng IV năm sau. Tuy vậy, cũng có nơi mưa xuất hiện và kết thúc sớm hay muộn hơn. Vì thế, thời gian mưa cũng dài ngắn khác nhau.2: Tổng lượng mưa trung bình (mm) trung bình nhiều năm (thời kì 1978-2007) Tổng Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII năm Xuân 7,2 8,6 20,6 59,6 196,9 280,3 329,1 346,4 345,8 307,1 126,5 38,9 2067,0 Lôc Vũng 9,8 6,9 13,9 57,5 188,5 273,4 303,8 300,7 285,9 284,5 118,9 44,6 1888,4 Tàu Long 1,5 1,7 4,7 33,7 195,4 250,3 238,4 225,2 215,2 241,7 57,4 12,2 1477,4 Thành Lá 7,6 9,8 22,7 61,9 188,7 254,6 300,8 300,1 308,8 268,6 131,1 48,2 1903,0 Buông (Nguồn : Viện quy hoạch thủy lợi miền Nam) 1.2 Bốc hơi Bốc hơi giữa các vùng trong lưu vực chênh lệch không nhiều, vùng đồi núi lượng bốc hơi nhỏ và vùng thấp lượng bốc hơi lớn hơn.
Lượng bốc hơi giữa các tháng trong năm có sự dao động ít.