chương 1 được tác giả đúc kết dựa vào tình hình nghiên cứu, tham khảo từ các bài viết, đánh giá quan điểm và cách áp dụng của một số nước trên thế giới với mục đích đưa ra cái nhìn tổng quan về bảo vệ dữ liệu cá nhân và tự do dữ liệu. Khái quát về dữ liệu, dữ liệu cá nhân Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh của công nghệ ky thuật số đã giúp thu thập và lưu trữ lượng dữ liệu khổng lồ trong các hồ dữ liệu lớn. Việc khai thác dữ liệu đã trở thành nhu cầu thiết yếu và dữ liệu trở thành một thành phần quan trọng trong nền kinh tế hiện đại6. Do đó, để có thể vận hành nền kinh tế số một cách tốt nhất, việc hiểu dữ liệu là gì sẽ giúp con người có những chính sách, giải pháp phù hợp cho việc thúc đẩy tự do, bảo vệ dữ liệu và phát triển nền kinh tế.
Dữ liệu Dữ liệu từ lâu đã trở thành một yếu tố quan trọng và không thể thiếu cho sự phát triển thương mại điện tử7, nó xuất hiện khi khách hàng tiềm năng xem, so sánh và mua sản phẩm trên Internet hoặc khi người bán cung cấp, quảng cáo và bán sản phẩm trực tuyến. Một lượng dữ liệu lớn được thu thập mỗi ngày thông qua sự trợ giúp của các nền tảng thương mại điện tử như trang mua sắm amazon với số lượng lớn người mua, người bán và các giao dịch diễn ra khắp nơi trên thế giới. Khi mua hàng trực tuyến, khách hàng sẽ bị doanh nghiệp, nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ thu thập thông tin về 6 Libor Klimek1, Rastislav Funta, “Data and e-commerce: an economic relationship”, xem tại: https://sciendo.com/it/article/10.2478/danb-2021-0003, truy cập ngày 10/4/2022. 7 Libor Klimek1, Rastislav Funta, “Data and e-commerce: an economic relationship”, xem tại https://sciendo.com/it/article/10.2478/danb-2021-0003, truy cập ngày 10/4/2022.
9 địa chỉ, số điện thoại, email,… việc thu thập những thông tin này để phục vụ cho việc quản lý kinh doanh và đồng thời để thực hiện việc giao hàng. Theo từ điển Cambridge, dữ liệu là tập hợp các dữ kiện, phần thông tin riêng biệt, được thu thập, định dạng và lưu trữ theo cách phù hợp để kiểm tra, xem xét, sử dụng bởi máy tính8. Kể từ khi khoa học máy tính ra đời vào giữa những năm 1900, dữ liệu thường đề cập đến thông tin được truyền hoặc lưu trữ dưới dạng điện tử. Dữ liệu được đo lường, thu thập, báo cáo và phân tích, đồng thời được sử dụng để tạo trực quan hóa dữ liệu như đồ thị, bảng hoặc hình ảnh.
Dữ liệu là một khái niệm chung đề cập đến thực tế là một số thông tin hoặc kiến thức hiện có được biểu diễn hoặc mã hóa ở một số hình thức phù hợp để sử dụng hoặc xử lý tốt hơn. Ngoài ra, quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 20059 cũng đưa ra định nghĩa “Dữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự”. Nhìn chung, các khái niệm về dữ liệu đã thể hiện được những đặc điểm cơ bản như: là thông tin, được biểu hiện dưới dạng chữ, số, hình ảnh. Dữ liệu được tạo ra có thể mang tính cá nhân (chẳng hạn như tên, địa chỉ và thông tin tài khoản) hoặc phi cá nhân (chẳng hạn như số lần bán một sản phẩm cụ thể, số lần trả lại),.
Tuy nhiên, trong bối cảnh giao dịch thương mại, các cuộc bàn luận chủ yếu xoay quanh vấn đề về dữ liệu hoặc thông tin nhận dạng cá nhân, dữ liệu công nghiệp. 8 Meaning of data in English, Cambridge English dictionary, xem tại: https://dictionary.org/dictionary/english/data, truy cập ngày 15/4/2022. 9 Luật Giao dịch điện tử 2005 (số: 51/2005/QH11), ngày 29/11/2005. Dữ liệu cá nhân và thông tin cá nhân Khi dữ liệu đóng vai trò then chốt cho sự tiến bộ thời đại và việc thu thập một khối lượng dữ liệu lớn từ đời sống xã hội dựa trên sự phát triển của các công nghệ lưu trữ đã đặt ra yêu cầu phải bảo đảm để mọi người có thể kiểm soát, bảo vệ thông tin hay dữ liệu cá nhân của mình10.
Từ đó, thuật ngữ dữ liệu cá nhân được ghi nhận và trở nên phổ biến trong khoa học pháp lý. Thuật ngữ “thông tin cá nhân, dữ liệu cá nhân” được nhắc đến từ những năm 1980 trong Công ước năm 1981 của Hội đồng châu Âu về bảo vệ cá nhân liên quan đến việc xử lý dữ liệu cá nhân tự động và Hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OSCD) điều chỉnh việc bảo vệ quyền về sự riêng tư và việc chuyển đổi dữ liệu cá nhân xuyên biên giới. Các văn kiện này mô tả “thông tin cá nhân là dữ liệu được bảo vệ ở mọi bước, từ thu thập đến lưu trữ và phổ biến”. Quyền của mọi người được truy cập và sửa đổi dữ liệu của mình cũng là một khía cạnh chính của các quy tắc này11.
Nhìn chung, phần mô tả trong các văn kiện trên vẫn chưa cụ thể cho việc xác định phạm vi để thực hiện bảo vệ dữ liệu, thông tin cá nhân. Quy định chung về bảo vệ dữ liệu của Liên minh Châu âu (GDPR) là một văn bản pháp lý quan trọng, thể hiện sự phát triển của các quy định về dữ liệu cá nhân. Trong đó, dữ liệu cá nhân được định nghĩa rõ ràng và chi tiết hơn. Cụ thể, Dữ liệu cá nhân là bất kỳ thông tin nào liên quan đến một thể nhân được xác định hoặc có thể nhận dạng được (chủ thể dữ liệu); thể nhân có thể nhận dạng là người có thể được xác định, trực tiếp hoặc gián tiếp, đặc biệt bằng cách tham chiếu đến một định danh như tên, số nhận dạng, dữ liệu vị trí, số nhận dạng trực tuyến hoặc một hoặc nhiều yếu tố cụ thể về thể 10 PGS.
Vũ Công Giao, THS. Lê Trần Như Tuyên “Bảo vệ quyền đối với dữ liệu cá nhân trong pháp luật quốc tế, pháp luật ở một số quốc gia và giá trị tham khảo cho việt nam”, xem tại: http://www.vn/Pages/TinTuc/210546/Bao-ve-quyen-doi-voi-du-lieu-ca-nhan-trong-phap-luat-quoc-te-- phap-luat-o-mot-so-quoc-gia-va-gia-tri-tham-khao-cho-Viet-Nam.html, truy cập ngày 10/4/2022. 11 Lê Thị Thùy Trang, “Các nguyên tắc cơ bản về bảo vệ thông tin cá nhân trong Hướng dẫn về quyền riêng tư của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD”, [https://aita.vn/cac-nguyen-tac-co-ban-ve-bao-ve-thong- tin-ca-nhan-trong-huong-dan-ve-quyen-rieng-tu-cua-to-chuc-hop-tac-va-phat-trien-kinh-te-oecd, truy cập ngày 5/4/2022. 11 chất, sinh lý, di truyền, tinh thần, kinh tế, tôn giáo hoặc bản sắc xã hội của thể nhân đó12.
Bên cạnh dữ liệu cá nhân, GDPR còn quy định thêm về loại dữ liệu cá nhân nhạy cảm dưới dạng hạng mục dữ liệu cá nhân đặc biệt, cụ thể: “Bất kỳ dữ liệu nào tiết lộ chủng tộc hoặc sắc tộc, tư tưởng chính trị, đức tin tôn giáo, quan niệm triết lý, thành viên công đoàn, và việc xử lý dữ liệu di truyền và sinh trắc nhằm mục đích định danh, hoặc dữ liệu liên quan đến sức khoẻ, tình trạng sinh dục, và xu hướng tính dục”13. Do tính chất của loại dữ liệu này nhạy cảm, mức độ bảo vệ được đặt ra cao hơn; theo đó, việc xử lý dữ liệu bị cấm hoàn toàn trừ trường hợp ngoại lệ được sự đồng ý của chủ thể dữ liệu. Ngoài ra, một số nước trên thế giới lại có cách tiếp cận khác khi định nghĩa “thông tin cá nhân” (personally identifiable information – PII). Cụ thể, theo định nghĩa của Bộ Thương mại My, PII “thông tin cá nhân là những thông tin có thể sử dụng để phân biệt hay nhận dạng một cá nhân như tên, số an sinh xã hội, hồ sơ sinh trắc v.nói riêng, hoặc khi kết hợp với các thông tin cá nhân hay thông tin nhận dạng khác liên quan hoặc có thể liên quan với một người cụ thể như ngày và nơi sinh, tên khai sinh của mẹ”.
Tuy nhiên, khái niệm dữ liệu cá nhân ở Châu Âu có phần rộng hơn so với khái niệm về thông tin cá nhân ở My14. Việc xác định thông tin cá nhân trong quy định của Liên minh châu Âu còn hướng tới các yếu tố văn hóa, xã hội của cá nhân có liên quan đến việc nhận diện cá nhân, bên cạnh các yếu tố nhằm nhận diện trực tiếp cá nhân. Pháp luật của Liên minh châu Âu nêu rõ về cách thức nhận diện, bao gồm cả nhận diện trực tiếp và nhận diện gián tiếp thông qua các công cụ nhận diện. Trong khi đó, pháp 12 Khoản 1 Điều 4 Quy định chung về bảo vệ dữ liệu của Liên minh châu Âu 13 Khoản 1, Điều 9 Quy định chung về bảo vệ dữ liệu của Liên minh châu Âu.
Nguyễn Hương Ly, Cục QLMMDS & KĐSPMM “Vai trò và sự cần thiết bảo vệ dữ liệu, thông tin cá nhân trong quản trị và quản lý dữ liệu”, xam tại: https://nacis.vn/nghien-cuu-trao-doi/-/view- content/214109/vai-tro-va-su-can-thiet-bao-ve-du-lieu-thong-tin-ca-nhan-trong-quan-tri-va-quan-ly-du-lieu-1 (truy cập ngày 22/4/2022) 12 luật My không nói rõ đến các yêu tố trên. Ví dụ: Đối với số nhận dạng trực tuyến của cá nhân (như địa chỉ IP, MAC, cookie…), nếu theo quy định của My thì không phải là PII nhưng theo quy định của châu Âu thì thuộc DLCN15. Pháp luật Việt Nam có những quy định định nghĩa khái niệm “thông tin cá nhân”. Theo khoản 15, Điều 3 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, thông tin cá nhân là thông tin gắn với việc xác định danh tính của một người cụ thể.
Tuy nhiên, quy định này hiện chưa rõ ràng, nó thiếu tính đầy đủ, cụ thể. Đồng thời, theo khoản 16 Điều 3 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP16 thông tin cá nhân đã định nghĩa về thông tin “Thông tin cá nhân là thông tin gắn liền với việc xác định danh tính, nhân thân của cá nhân bao gồm tên, tuổi, địa chỉ, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, địa chỉ thư điện tử và thông tin khác theo quy định của pháp luật”. Với quy định này, rất khó có thể xác định thông tin nào của cá nhân là TTCN được pháp luật bảo vệ. Như vậy, khái niệm về thông tin cá nhân của pháp luật Việt Nam có nội hàm hẹp hơn khái niệm dữ liệu cá nhân của pháp luật Châu Âu và thông tin cá nhân trong pháp luật của My.
Nhìn chung, các khái niệm về thông tin cá nhân, dữ liệu cá nhân của các quốc gia đều đề cập đến yếu tố như xác định, nhận dạng một cá nhân, đây là những yếu tố cơ bản, nền tảng của các khái niệm này. Bên cạnh đó, việc đưa ra quy định về khái niệm dữ liệu cá nhân giúp các quốc gia xác định phạm vi và đối tượng bảo vệ đối với dữ liệu cá nhân. Chúng ta nên tránh việc giải thích nội hàm dữ liệu cá nhân một cách quá hẹp vì điều này có thể ảnh hưởng đến phạm vi bảo vệ đối với dữ liệu cá nhân mà hiện tại chưa lường trước được17. 15 Khái niệm thông tin cá nhân, xem tại: https://ehealth.vn/?action=News&newsId=49547, truy cập ngày 17/4/2022.