Chương 1: Tổng quan – Giới thệu khái quát về kinh doanh bất động sản - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu - Chương 3: Thực trạng về sự cân bằng công việc-cuộc sống - Chương 4: Định hướng kinh doanh bất động sản và giải pháp cải thiện sự cân bằng công việc-cuộc sống 123doc 12 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về cân bằng công việc và cuộc sống 2.1 Khái niệm cân bằng công việc và cuộc sống Cân bằng công việc và cuộc sống (work-life balance) được đề cập đến lần đầu tiên năm 1986, sau khi có rất nhiều người lao động chọn cách cống hiến hết mình cho công việc mà xao lãng hoàn toàn gia đình, bạn bè, thư giãn và chỉ chuyên tâm vào việc làm sao để đạt được những mục tiêu của công ty (theo nghiên cứu của Trung Tâm điều độ giữa công việc và cuộc sống (Work-Life Balance Centre) tại Newton Burgoland, Leicestershire, Anh). Sự cân bằng công việc và cuộc sống được định nghĩa như là sự thỏa mãn và thực hiện tốt các chức năng tại nơi làm việc và gia đình với sự xung đột về vai trò ở mức tối thiểu (Clark, 2000). Sự cân bằng công việc và cuộc sống được định nghĩa như là sự không có các mức độ xung đột không thể chấp nhận được giữa công việc và các nhu cầu phi công việc (Greenblatt, 2002). Sự cân bằng công việc và cuộc sống là phạm vi mà ở đó sự thỏa mãn và tính hiệu quả của cá nhân trong công việc và trong các vai trò ở gia đình phù hợp với những điều ưu tiên trong cuộc sống của cá nhân ấy (Greenhaus và Allen, 2006).
Sự cân bằng công việc và cuộc sống được định nghĩa là sự hoàn thành những vai trò trông đợi, cái mà được thỏa thuận và chia sẻ giữa cá nhân với các bên thực hiện vai trò liên quan trọng phạm vi công việc và gia đình. Xung đột giữa công việc và gia đình (work-life conflict) là hình thức xung đột về vai trò được mô tả như là một sự không phù hợp giữa các trách nhiệm đối với gia đình và nơi làm việc (Greenhaus và Beutelle, 1985).2 Quy tắc PERMA cân bằng cuộc sống 123doc 13 Quy tắc này được Martin Sligman, một nhà tâm lý học rất có uy tín công bố rộng rãi trong quyển “Flourish” (Thành đạt) của ông – một quyển sách có tầm ảnh hưởng lớn xuất bản năm 2011. PERMA gồm 5 yếu tố sau: - Những cảm xúc tích cực (P – Positive Emotions): Những cảm xúc tích cực có thể kế đến như cảm giác hài lòng, hạnh phúc, thỏa mãn, bình yên, vui vẻ, tràn đầy hứng khởi… Những cảm xúc này mang đến cho bạn một nguồn năng lượng tràn trề cho công việc lẫn cuộc sống. Vì vậy, nếu bạn thấy mình vẫn chưa nếm trải đủ những cảm xúc tích cực trong cuộc sống, hãy ngừng lại và tự hỏi tại sao.
Trước tiên, xét về khía cạnh nghề nghiệp. Bạn đã thực sự phát huy hết tài năng và thế mạnh của mình trong vai trò hiện tại chưa? Bạn chỉ có thể hài lòng và hạnh phúc với công việc khi làm đúng việc yêu thích và phù hợp. Đồng thời, hãy dành đôi chút thời gian để xác định ai hay điều gì có thể đem lại niềm vui cho bạn. Ví dụ bạn thích được ở ngoài trời và hòa mình vào thiên nhiên.
Vậy sao bạn không thử mang một chút mảnh xanh vào văn phòng hay góc làm việc của mình để cảm nhận được sự bình yên? Đơn giản là để thổi vào nếp sống thường nhật của bạn những luồng cảm xúc tích cực và những nguồn vui mới. Đừng trì hoãn những việc mang lại cho bạn khoảnh khắc hạnh phúc. - Sự gắn kết (E – Engagement): Chỉ khi gắn kết thật sự với những việc đang làm, bạn mới đạt được kết quả tốt nhất. Cách tốt nhất để thật sự gắn kết với công việc là hãy yêu thích công việc đó.
Hãy tìm những khía cạnh trong công việc mà bạn yêu thích như những dự án phù hợp, những người đồng nghiệp thân thiện, môi trường làm việc hay những điều bạn có thể học hỏi được. Nếu bạn không thể trả lời được câu hỏi “Bạn thích gì ở công việc hiện tại?” thì đã đến lúc bạn tìm cho mình công việc mới thích hợp hơn. Tiếp đó, hãy gắn kết bản thân với những điều bạn yêu thích trong cuộc sống. Chẳng hạn như đọc sách, xem phim, đi dạo, gặp gỡ bạn bè hay chơi thể thao… Chính những sở thích này sẽ giúp bạn giảm stress, lấy lại cân bằng.
- Những mối quan hệ tích cực (R – Positive Relationships): 123doc 14 Con người là “những thực thể xã hội”, và những mối quan hệ tốt chính là cốt lõi của sự thành công. Thông thường, những người có mối quan hệ tích cực và nhiều ý nghĩa thường hạnh phúc hơn những ai không có được điều đó. Bạn có những mối quan hệ tích cực trong cuộc sống không? Đó có thể là mối quan hệ gia đình, bạn bè, hay đồng nghiệp. Phần lớn thời gian của bạn tại nơi làm việc, mối quan hệ tốt với đồng nghiệp sẽ hỗ trợ bạn đắc lực trong công việc và giúp cân bằng cuộc sống nơi công sở.
Tiếp đến, hãy nhìn lại cuộc sống cá nhân của bạn. Đã bao lâu rồi bạn chưa gặp người bạn thân? Sinh nhật của cha/mẹ bạn là ngày nào và bạn đã chuẩn bị gì chưa? Đôi khi cuộc sống bận rộn làm bạn xao lãng những mối quan hệ gia đình, bạn bè, những người luôn ở bên bạn dù bạn thành công hay thất bại. Hãy cam kết sẽ dành nhiều thời gian hơn cho gia đình, bạn bè và duy trì điều này thật đều đặn. Bạn không thể hạnh phúc khi không có họ trong cuộc đời này.
- Ý nghĩa cuộc sống (M – Meaning): Ý nghĩa cuộc sống đến từ việc phục vụ cho một mục đích lớn lao hơn chính bản thân mình. Mỗi người sẽ có những cảm nhận khác nhau về ý nghĩa cuộc sống, đó có thể xuất phát từ tôn giáo hay từ mong muốn một cuộc sống tốt đẹp cho mọi người. Hãy tìm kiếm ý nghĩa trong từng việc bạn làm để nuôi dưỡng cho mình cảm xúc vui sống. Ví dụ, công việc bạn đang làm phục vụ cho ai, và mang lại cho họ những gì? Đây chính là động lực giúp bạn làm tốt công việc với niềm tự hào.
Ngoài ra, hãy dành thời gian bên gia đình, tham gia các hoạt động từ thiện… tất cả điều này giúp bạn sống có ý nghĩa hơn, khi đó bạn sẽ cảm thấy thật sự hài lòng. - Thành tích (A – Accomplishments/Achievement): Nhiều người trong chúng ta luôn phấn đấu để hoàn thiện bản thân theo một cách nào đó, có thể là phát triển một kỹ năng, thăng tiến trong công việc hay chiến thắng ở một cuộc thi. Không lời nào có thể diễn tả được niềm vui và niềm tự hào khi đạt được những thành tích trên. Thành tích chính là những mục tiêu bạn luôn cố hết sức để đạt được trong công việc lẫn cuộc sống.
Xác định điều bạn thực sự muốn và đạt được những 123doc 15 điều này sẽ giúp cuộc sống thăng hoa. Vậy đâu là những điều bạn muốn? Trả lời một số câu hỏi sau sẽ giúp bạn: + 5 giá trị quan trọng nhất trong cuộc sống của bạn là gì? + 3 mục tiêu quan trọng nhất trong đời bạn, ngay lúc này là gì? + Nếu hôm nay bạn biết rằng mình chỉ còn sống trong 6 tháng, bạn sẽ làm gì với khoảng thời gian còn lại? + Bạn sẽ làm gì nếu ngày mai bạn trúng 1 triệu đô la tiền mặt? + Bạn đã luôn muốn làm gì, nhưng lại ngại thử sức? + Bạn thích làm gì nhất? Điều gì đem lại cho bạn cảm giác tự hào và hài lòng về bản thân nhất? + Giả sử bạn biết mình sẽ không thất bại, thì điều vĩ đại nhất bạn từng dám ước mơ là gì? Tuy nhiên, nếu quá thúc ép bản thân đạt được nhiều thành tích hơn, bạn sẽ cảm thấy áp lực và mệt mỏi dẫn đến mất cân bằng trong công việc và cuộc sống. Nếu bạn đang rơi vào trạng thái này thì đây có lẽ là thời điểm để nhìn lại và tập trung vào những yếu tố khác của quy tắc PERMA.3 Tháp nhu cầu của Maslow Vào năm 1954, Abraham Maslow đã đưa ra đưa ra quan điểm về nhu cầu của con người và nhu cầu này được sắp xếp theo các thứ bậc khác nhau. Học thuyết của ông được dựa trên những con người khoẻ mạnh, sáng tạo, những người sử dụng tất cả tài năng, tiềm năng và năng lực trong công việc.
Vào thời điểm đó, phương pháp này khác biệt với các công trình nghiên cứu tâm lý con người khác được dựa trên việc quan sát con người bị chi phối bởi các phiền muộn là chủ yếu. Có hai nhóm nhu cầu chính của con người: Nhu cầu cơ bản (basic needs) và Nhu cầu bậc cao (meta needs). Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý như thức ăn, nước uống, ngủ nghỉ và các yếu tố tâm lý như cảm xúc, cảm giác an toàn, lòng tự tôn. Những nhu cầu cơ bản này cũng được gọi là các nhu cầu thiếu hụt (deficiency needs) vì nếu con người không có đủ những nhu cầu này, họ sẽ đấu tranh để có được nó, bù đắp bằng được sự thiếu hụt.
Nhu 123doc 16 cầu bậc cao là các nhu cầu cao hơn hay nhu cầu hiện hành (nhu cầu phát triển). Những nhu cầu này bao gồm sự công bằng, lòng tốt, vẻ đẹp, thứ bậc, sự đồng lòng nhất trí, v.1 Tháp nhu cầu của Maslow 2.4 Khái niệm về stress Theo Y học hiện đại, thuật ngữ này được sử dụng lần đầu năm 1914 bởi Walter Cannon. Có rất nhiều định nghĩa về stress theo các khía cạnh khác nhau. Theo định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), stress là sự phản ứng thông qua thể chất, tinh thần, hoặc tình cảm của cơ thể con người với các tác nhân gây ra căng thẳng từ bên ngoài.
Các tác nhân đó có thể là áp lực từ công việc và tài chính; sự đổ vỡ về mặt tình cảm; các vấn đề về sức khỏe như thiếu ngủ, bệnh tật; do sử dụng các chất kích thích kéo dài như bia, rượu, thuốc lá,… Có thể chia tác nhân gây stress ra làm hai nhóm chính: - Nguyên nhân bên ngoài: công việc, các vấn đề rắc rối, trong quan hệ cá nhân, tài chính, những thay đổi chính trong cuộc sống, gia đình và con cái… - Nguyên nhân bên trong (chủ quan) thường gặp ở những người cầu toàn, thiếu quyết đoán, hay có những kỳ vọng, kém thực tế khi không đạt được dễ gây stress.