CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan một số nghiên cứu về hạnh phúc và CNHP của trẻ em 1.1 Các nghiên cứu về hạnh phúc và CNHP Thuyết vị lợi (utilitarianism) sáng lập bởi Jeremy Bentham (1748 - 1832) và sau này được phát triển bởi John Stuart Mill (1806- 1873) cho rằng: Hạnh phúc là sự vui thú (pleasure) không có khổ đau; hành động đúng hay chính sách của chính phủ là cái sẽ gây ra 'điều tốt đẹp nhất cho số lượng người lớn nhất, còn được gọi là "nguyên tắc hạnh phúc lớn nhất". Lần đầu tiên họ đã cố gắng để đo lường hạnh phúc (hedoniste) tạo ra một công cụ gồm bảy hạng mục để lượng giá các trải nghiệm hạnh phúc bao gồm: 1) Cường độ: Mức độ tác động của lạc thú. 2) Thời lượng: Thời gian diễn ra lạc thú.
3) Xác định hay bất định: Mức độ đảm bảo rằng một kinh nghiệm đặc biệt nào đó sẽ mang đến khoái cảm trong quá trình tham gia lạc thú. 4) Sự gần gũi hay xa cách: Mức độ gần gũi, chặt chẽ của lạc thú xét về mặt không gian và thời gian. 5) Sự phong phú : Khả năng tiếp cận với các thú vui phụ khác. 6) Độ thuần thục: Mức độ loại trừ các yếu tố gây khó chịu và đau đớn.
Và 7) Phạm vi: Khả năng chia sẻ niềm hoan lạc với người khác. Bradburn (1969) đã đề cập đến đánh giá hạnh phúc từ rất sớm với khung tham chiếu là cảm nhận tiêu cực và cảm nhận tích cực cũng như tác động của hai chiều hướng này trên mỗi cá nhân. Theo ông biến phụ thuộc cơ bản của nó được cho là hạnh phúc hay cảm giác tâm lý hạnh phúc. Vị trí của một người về cảm nhận hạnh phúc tâm lý được xem như là kết quả của vị trí của cá nhân trên hai chiều không gian độc lập – ảnh hưởng tích cực và những ảnh hưởng tiêu cực khác.
Các mô hình cụ thể cho rằng một cá nhân sẽ có điểm cao về CNHP khi mà các ảnh hưởng tiêu cực được đánh giá là thấp và ảnh hưởng tích cực chiếm ưu thế hơn. Vì vậy, ông cũng cho rằng trong nhiều khía cạnh, mô hình tương tự như niềm vui - và sự đau đớn hoặc các mô hình tiện ích cũ mà xem hạnh phúc của một cá nhân hay hạnh phúc là mức độ mà niềm vui chiếm ưu thế hơn nỗi đau trong kinh nghiệm cuộc sống của mình. Trong Ấn phẩm “Quan điểm về tâm lý học” – “Những thay đổi đáng chú ý trong hệ thống kiến thức về hạnh phúc cá nhân” (20/8/2013), Ed Diener đã chỉ ra 6 c cấu trúc của hạnh phúc chủ quan (Subjective well-being) bao gồm ba thành phần chính là sự hài lòng về cuộc sống, trải nghiệm tích cực, và trải nghiệm tiêu cực. Tác giả đưa ra kết luận rằng cảm giác hạnh phúc không chỉ là một kết quả tích cực ở trong hiện tại mà còn là một yếu tố dự báo và nguyên nhân xuất hiện hành vi trong tương lai.
Mức độ hạnh phúc chủ quan cao có thể làm cho sức khỏe tốt hơn và kéo dài tuổi thọ, và cải thiện mối quan hệ xã hội và năng suất làm việc. (Được trích dẫn bởi Nguyễn Ngọc Thúy, 2017.) Trong chương 47: “Hạnh phúc, sự hài lòng về cuộc sống và sự khỏa lấp: Tâm lý học xã hội về hạnh phúc chủ quan” của cuốn sách “Hiểu thêm về Tâm Lý Học Xã Hội: lợi ích của những cách tiếp cận đa chiều”, các tác giả Ed Diener, Maya Tamir, & Christie Napa Scollon, (2006) nêu ra khái niệm hạnh phúc chủ quan phản ánh cách thức mỗi nguời nhìn nhận và đánh giá về cuộc sống của mình dưới góc độ nhận xét về mức độ hài lòng (về cuộc sống hoặc các khía cạnh như hôn nhân và công việc), tâm trạng và các cảm xúc - thể hiện sự đánh giá đối với các sự kiện, tình huống. Về tương quan của các yếu tố đối với hạnh phúc chủ quan, tác giả đưa ra một số yếu tố như các mối quan hệ xã hội, văn hóa, các yếu tố nhân khẩu học như mức thu nhập, độ tuổi, giới tính, sắc tộc, nghề nghiệp và học vấn. Đồng thời, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của nhân cách trong trải nghiệm hạnh phúc của cá nhân.
(Được trích dẫn bởi Nguyễn Ngọc Thúy, 2017.) Theo Diener và cs (2002), các nhà tâm lý học hiện đại phương Tây nhấn mạnh đến các thành tố niềm vui (pleasure), sự hài lòng (satisfaction) và ý nghĩa cuộc sống (life meaning) khi bàn về hạnh phúc. Ngoài ra, có rất nhiều lý thuyết khác đề xuất các mô hình về hạnh phúc. Theo mô hình của nhiều nhà tâm lý học đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về hạnh phúc, họ cho rằng sống tốt không chỉ đơn giản là trải nghiệm nhiều niềm vui hơn sự đau khổ, mà nó còn liên quan đến nỗ lực đạt đến sự hoàn hào và khả năng nhận thức được tiềm năng thật sự của một người (Ryff, 1989). 2) Có mối quan hệ tích cực (với người khác).
4) Phát triển cá nhân. 5) Có mục tiêu cuộc sống và 6) Làm chủ hoàn cảnh. 7 c Như vậy, khái niệm hạnh phúc đã được quan tâm và đề cập tới từ lâu và có thiên hướng chuyển hóa từ sự thỏa mãn tức thời bên trong (thỏa mãn nhu cầu lạc thú của bản thân) sang bao gồm cả trải nghiệm sâu bên trong (tự chấp nhận chính mình) và sự thỏa mãn bên ngoài (có mối quan hệ tích cực, có mục tiêu và làm chủ hoàn cảnh). Các nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc của trẻ em Trên Thế giới Thế giới đã có những nghiên cứu về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em như các nghiên cứu của Tổ chức trẻ em và Đại học York ở Anh (Rees và các đồng nghiệp, 2010, 2012; Bradshaw và các đồng nghiệp, 2010); báo cáo của UNICEF về CNHP chủ quan của trẻ em từ 11 đến 14 tuổi ở Tây Ban Nha (Casas và các đồng nghiệp, 2012).
Theo UNICEF, việc thừa nhận các quyền của trẻ em chỉ là một bước sơ bộ trong việc tạo ra một môi trường cần thiết cho trẻ em để có được cuộc sống tốt nhất. Chúng tôi tin rằng điều quan trọng là phải cung cấp cho trẻ em một môi trường mà chúng có thể nở hoa trọn vẹn và đạt được tiềm năng cao nhất của chúng. Trẻ em cần một bầu không khí, trong đó trẻ cảm thấy 'tốt' với cuộc sống của trẻ, có thể làm theo các khuynh hướng của mỗi trẻ và được nhắc nhở để mang lại lợi ích tốt nhất cho trẻ. Một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc đánh giá liệu một môi trường cụ thể có lợi cho sự phát triển các tiềm năng tốt của trẻ em là trẻ có nhận thức về CNHP chủ quan của mình.
Điều này được thực hiện tốt nhất bằng cách để trẻ trực tiếp đánh giá và chia sẻ về cảm nhận phúc của chính trẻ. Điều tra quốc tế về hạnh phúc của trẻ em (ISCWeB), là một cuộc khảo sát toàn cầu về hạnh phúc chủ quan của trẻ em. Dự án đã lấp đầy một khoảng trống đáng kể trong nghiên cứu so sánh quốc tế về chủ đề cuộc sống và CNHP của trẻ. Dự án được bắt đầu từ năm 2009 với sự chủ trì của UNICEF.
Cho đến nay đang ở pha 3 giai đoạn 4 với sự tham gia của 54,000 trẻ em tại 16 nước. Mỗi quốc gia thực hiện khảo sát với trẻ em ở 3 lứa tuổi 8,10 và 12 tuổi về CNHP của trẻ trên các bình diện. Qua đó đưa ra các khuyến nghị và thúc đẩy cải thiện an sinh cho trẻ em bằng cách tạo ra nhận thức cho trẻ em, cha mẹ và cộng đồng, các nhà lãnh đạo, các nhà ra quyết định, chuyên gia và công chúng. 8 c Theo báo cáo nghiên cứu Chỉ số CNHP chủ quan xã hội (Subjective Social Indicators and Child and Adolescent Well-being) của trẻ em và thanh thiếu niên, Ferran Casas (2011) nhấn mạnh đến việc thiếu dữ liệu quốc tế so sánh về trẻ em và thanh thiếu niên ở cấp độ vĩ mô và điều này có liên quan đến sự thừa nhận vai trò tiếng nói của trẻ em đối với người lớn và các cấp lãnh đạo.
Hiện nay, nghiên cứu về quan điểm riêng của trẻ em và thanh thiếu niên về điều kiện sống của chúng - mặc dù vẫn còn trong giai đoạn đầu và rất không đồng nhất - đã cho thấy những tiến bộ nhanh chóng và thậm chí là những kết quả bất ngờ và đáng ghi nhận. Các công cụ thử nghiệm đã có sẵn, nhưng việc thu thập dữ liệu có hệ thống vẫn còn khan hiếm và dữ liệu so sánh được sử dụng để so sánh quốc tế là không thường xuyên.C, Sara M, Ferran C, Gemma C, Mireia B và Dolors N (2015) trong nghiên cứu “Đánh giá CNHP chủ quan của trẻ em: Điểm mạnh và thách thức” cho rằng: Mặc dù nghiên cứu về hạnh phúc (viết tắt là SWB) đã dần dần tăng lên ở độ tuổi trẻ hơn, song việc nghi ngờ về khả năng của trẻ nhỏ để cung cấp câu trả lời đáng tin cậy về SWB dẫn đến ít nghiên cứu hơn cho trẻ em dưới 12 tuổi. Kết quả là, chỉ có một vài công cụ được thiết kế để đánh giá SWB ở trẻ nhỏ - Chỉ số Cá nhân- Trường học Trẻ em là một trong số chúng. Các tác giả của công cụ này khuyên chúng ta nên kiểm tra sự hiểu biết của người trả lời về các mục và khả năng biến đổi các đánh giá của họ thành một con số cụ thể trên thang điểm trước khi quản lý nó.
Lấy làm điểm khởi đầu, và được đóng khung trong dự án Children's Worlds (www.org), với sự tham gia của 1.109 trẻ em Tây Ban Nha, chủ yếu là trẻ 8 tuổi, được trình bày với nhiều tình huống khác nhau (ví dụ, không thể đi đến rạp chiếu phim với cha mẹ của em khi em muốn), trẻ phải cung cấp cả câu trả lời định tính (giải thích cách trẻ cảm nhận theo lời của trẻ) và câu trả lời định lượng cho các loại câu khác nhau (biểu tượng cảm xúc để thể hiện mức độ hài lòng, tỷ lệ hài lòng từ 1 đến 5, và từ 0 đến 10, cả hai không phải sử dụng biểu tượng cảm xúc). Kết quả cho thấy tỷ lệ phần trăm cao nhất của các trường hợp tương ứng với tổng tính nhất quán giữa cả hai loại phản hồi (định tính và định lượng). Như vậy, trẻ nhỏ 8 tuổi hoàn toàn có khả năng trình bày quan điểm và CNHP của chính trẻ. Việc làm rõ các khái niệm và sử dụng kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng sẽ giúp làm tăng chất lượng của thông tin thu thập được.