CHƯƠNG 1. Cảm biến sinh học 1. Khái niệm cảm biến sinh học Hiệp hội quốc tế về hoá học ứng dụng - IUPAC năm 1999 đã định nghĩa: cảm biến sinh học là một thiết bị tích hợp độc lập có khả năng cung cấp các thông tin được phân tích một cách định lượng và bán định lượng nhờ một phần tử sinh học. Cảm biến sinh học có ba bộ phận chính: (1) đầu thu sinh học, (2) bộ phận chuyển đổi và (3) bộ phận xử lý và đọc tín hiệu [27] (Hình 1.
Cấu tạo chung của cảm biến sinh học. Phân loại cảm biến sinh học Tùy theo phần tử nhận biết sinh học và bộ chuyển đổi mà ta có thể phân loại cảm biến sinh học thành các loại khác nhau như cảm biến enzyme, cảm biến miễn dịch (immunosensors), cảm biến DNA (deoxyribonucleic acid), cảm biến sinh học điện hóa, cảm biến sinh học quang [22]. Trong chẩn đoán bệnh, người ta dựa vào yếu tố nhận biết sinh học để phân loại cảm biến.2 cho thấy xu hướng số lượng bài báo khoa học NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỚC 12 ITIMS 2017-2019 hàng năm được Scopus đưa ra từ năm 2010 đến năm 2018 trong lĩnh vực cảm biến sinh học dựa trên các phần tử nhận biết [14]. Số lượng bài báo của các cảm biến sinh học này có xu hướng tăng từ năm 2013 đến năm 2017, nhưng đến năm 2018 thì có xu hướng giảm mạnh.
Trong đó số lượng bài báo về cảm biến enzyme chiếm nhiều nhất và số lượng bài báo được công bố liên quan đến cảm biến sinh học dựa trên kháng thể xếp vị trí thứ hai. Xu hướng về số lượng bài báo được xuất bản hàng năm liên quan đến cảm biến sinh học dựa trên các phần tử nhận biết sinh học [14]. Cảm biến enzyme Bộ cảm biến sinh học enzyme là một công cụ phân tích hiệu quả, trong đó enzyme là phần tử sinh học được sử dụng để liên kết giữa chất phân tích và bộ chuyển đổi nhằm chuyển đổi cơ chất xác định thành tín hiệu có thể đo được. Nguyên lý của cảm biến sinh học dựa trên enzyme là phát hiện sự có mặt của một số chất phân tích bằng cách đo đạc NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỚC 13 ITIMS 2017-2019 sự thay đổi như: nồng độ proton (H+), giải phóng hoặc hấp phụ khí (ví dụ, CO2, NH3, O2, .), phát xạ ánh sáng, hấp thụ hoặc phản xạ, phát xạ nhiệt, xảy ra trong quá trình tiêu thụ cơ chất hoặc hình thành sản phẩm của một phản ứng enzyme [14].
Enzyme có tính chọn lọc và độ nhạy cao với phản ứng hóa học, chúng hoạt động khá nhanh so với các thụ thể sinh học khác và chúng có thể được sử dụng kết hợp với các cơ chế truyền tải khác nhau, đã làm cho cảm biến sinh học dựa trên enzyme trở thành một trong những lĩnh vực được nghiên cứu rộng rãi nhất. Ngoại trừ số lượng nhỏ các phân tử a-xít ribonucleic (RNA) làm xúc tác, tất cả các enzyme đều là protein. Cảm biến DNA Nguyên lý hoạt động của cảm biến DNA dựa trên sự lai hóa thông qua liên kết hydro tự phát giữa DNA mục tiêu và chuỗi bổ sung của nó. Nguyên tắc này thường được sử dụng bằng cách cố định DNA đơn sợi (ssDNA) trên một bề mặt thích hợp.
Sự lai hóa này thường được phát hiện bởi hai phương pháp khác nhau: (1) sự phát hiện của các chất chỉ thị điện động nhất định (sự gắn nhãn), (2) sự phát hiện tín hiệu được tạo ra bởi hầu hết các bazơ điện động của DNA như mô tả trong hình 1. Thiết kế chung và nguyên lý làm việc của cảm biến sinh học DNA [4]. Phân tử DNA trong cơ thể sống thường tồn tại dưới dạng xoắn kép, dưới tác động NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỚC 14 ITIMS 2017-2019 của nhân tố gây biến tính như: nhiệt độ, pH, hóa chất ở một mức độ nhất định nào đó sẽ làm cho hai mạch này phân tách nhau ra. Đầu thu chuỗi a-xít nucleic được sử dụng phổ biến trong các cảm biến sinh học do giá thành rẻ, độ nhạy và tính chọn lọc cao do ái lực liên kết rất mạnh.
Các đầu thu này cho phép phát hiện các đối tượng liên quan đến gen, sự đột biến trong cấu trúc của DNA, phát hiện các DNA của tế bào ung thư và xác định các độc tố. Aptasensors Cảm biến sinh học sử dụng aptamers như một phân tử nhận biết được gọi là aptasensors. Aptasensors ổn định hơn và thích nghi tốt với các điều kiện của mẫu thực vì các tính chất cụ thể của aptamers [22]. Aptamer là các chuỗi đơn của phân tử RNA (ribonucleic acid) hoặc DNA liên kết với các phân tử mục tiêu của chúng với độ đặc hiệu và ái lực cao.
Sơ đồ đơn giản hóa minh họa tương tác aptamer-mục tiêu [22]. Aptamers đã được phát triển cho các ứng dụng khác nhau. Việc sử dụng chúng như các yếu tố nhận biết sinh học trong cảm biến sinh học hứa hẹn sự tiến bộ trong phát hiện protein nhanh chóng và dễ dàng. Aptamers có thể cạnh tranh với kháng thể trong một số ứng dụng.
Aptamer có kích thước rất nhỏ (30 - 100 nucleotide) so với các phân NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỚC 15 ITIMS 2017-2019 tử nhận thức sinh học khác như kháng thể hoặc enzyme. Điều này cho phép cố định hiệu quả các aptamer ở mật độ cao. Do đó, việc sản xuất, thu nhỏ, tích hợp và tự động hóa các cảm biến sinh học có thể được thực hiện với các aptamer dễ dàng hơn là với các kháng thể. Sau khi được chọn, aptamers có thể được tổng hợp với độ tái lập và độ tinh khiết cao.
Aptamers có thể được phân loại là: - Aptamer DNA hoặc RNA - Aptamer peptit Tương tác giữa aptamer và chất mục tiêu được minh họa trong hình 1. Các aptamer DNA có tính ổn định hóa học cao cho phép tái sử dụng các cảm biến sinh học. Ngược lại, các aptamer RNA thì nhạy cảm với sự thoái hóa do các rebonuclease nội sinh thường được tìm thấy trong các dung dịch tế bào và huyết thanh. Do đó, cảm biến sinh học sử dụng các aptamer RNA làm chất nhận biết sinh học chỉ có thể được sử dụng cho các phép đo một lần trong môi trường sinh học.
Các aptamer DNA và RNA có thể được biến tính hóa học để trải qua những thay đổi về hình dạng phụ thuộc vào chất phân tích. Cảm biến miễn dịch Cảm biến miễn dịch là chủ đề ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, như một công cụ hữu ích trong chẩn đoán lâm sàng, giám sát môi trường và ứng dụng an toàn thực phẩm do tính đặc hiệu cực cao của chúng. Nguyên lý làm việc dựa trên việc phát hiện, xử lý và hiển thị tín hiệu gây ra bởi sự hình thành phức hợp kháng nguyên - kháng thể (Ag - Ab). Tương tác giữa kháng thể với kháng nguyên theo nguyên tắc ổ khóa và chìa khóa có tính đặc hiệu cao.
Cảm biến miễn dịch là một thiết bị phân tích không cần xử lý mẫu trước và có khả năng phân tích mẫu có chứa nhiều tạp chất như: máu, huyết thanh, nước tiểu chứa các cơ chất như protein, a-xít amin, đường, hooc môn… Đặc biệt, cảm biến miễn dịch có ưu điểm vượt trội hơn hẳn so với phương pháp khác về thời gian và độ nhạy [55].5 mô tả một số cấu hình liên kết của các xét nghiệm miễn dịch. NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỚC 16 ITIMS 2017-2019 Hình 1. Các cấu hình liên kết của xét nghiệm miễn dịch: (A) hình thành cấu trúc bánh sandwich, (B) xét nghiệm miễn dịch kiểu cạnh tranh, (C) hình thành cấu trúc bánh sandwich mở rộng, và (D) hình thành cấu trúc bánh sandwich trên bề mặt (hạt nano-vi mô) [4]. Cảm biến miễn dịch có hai cách phát hiện là: cảm biến phát hiện trực tiếp và cảm biến phát hiện thông qua chất đánh dấu trung gian.
Cảm biến phát hiện gián tiếp có ưu điểm là làm tăng độ nhạy, nhưng lại làm giảm tính chọn lọc do sử dụng chất đánh dấu trung gian, hơn nữa kỹ thuật này tốn nhiều hóa chất và thời gian do cần thời gian ủ kháng thể với chất đánh dấu. Do đó cảm biến miễn dịch phát hiện trực tiếp không cần chất đánh dấu thường được quan tâm hơn, loại cảm biến này cho phép đo mẫu với kết quả tức thời mà không cần thêm bất kỳ chất nào khác [59]. Kháng thể hoặc immunoglobin là các protein huyết tương hình cầu, nặng 150 kDa. Chúng còn được gọi là glycoprotein và bao gồm hai chuỗi nặng và hai chuỗi nhẹ tạo thành hình dạng chữ Y (Hình 1.
NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỚC 17 ITIMS 2017-2019 Hình 1. Sơ đồ biểu diễn cấu trúc hình chữ Y của một kháng thể [12][51]. Kháng nguyên được tạo ra ở động vật bởi phản ứng miễn dịch với các tác nhân bên ngoài. Kháng thể liên kết với kháng nguyên mục tiêu có ái lực cao và vì vậy có thể phát hiện chất cần phân tích trong sự có mặt của các chất khác.
Các kháng thể được sử dụng trong sự phát triển của cảm biến miễn dịch có hai loại: đa dòng và đơn dòng [22] (Hình 1. Kháng thể đơn dòng và đa dòng khi tương tác với kháng nguyên [22]. NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỚC 18 ITIMS 2017-2019 Kháng thể đơn dòng (monoclonal antibody): chỉ nhận biết một epitope trên một kháng nguyên cho sẵn. Tất cả các kháng thể đơn dòng cùng một dòng thì giống hệt nhau và được sản xuất bởi cùng một tương bào [51].
Kháng thể đa dòng (polyclonal antibody): tập hợp các kháng thể đặc hiệu với các epitope khác nhau trên một kháng nguyên cho trước. Trong đáp ứng miễn dịch, cơ thể tổng hợp nhiều kháng thể tương ứng với các epitope của cùng một kháng nguyên, đáp ứng này được gọi là đa dòng [51]. Do tính đặc hiệu mà kháng thể đơn dòng được sử dụng như là một kháng thể chính trong các xét nghiệm miễn dịch hoặc để phát hiện các kháng nguyên cụ thể bên trong các chất khác. Tương tác giữa một kháng thể và một kháng nguyên [12][51].
Tương tác giữa một kháng thể và một kháng nguyên phụ thuộc vào bốn kiểu lực không có bản chất cộng hóa trị (Hình 1.8): (1) liên kết hyđrô, trong đó một nguyên tử NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỚC 19 ITIMS 2017-2019 hydro chia sẻ với hai nguyên tử tích điện âm; (2) liên kết ion giữa các thành phần tích điện trái dấu; (3) các tương tác kị nước; và (4) các tương tác Van der Waals giữa các đám mây điện tử phía ngoài của hai hoặc nhiều nguyên tử. Trong môi trường nước, các tương tác không có bản chất cộng hóa trị đặc biệt yếu và phụ thuộc vào hình dạng kháng thể và kháng nguyên [12]. Để chuyển các tương tác sinh học giữa phân tử đích với đầu thu sinh học thành dạng tín hiệu đo đạc được.