Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động của cơ quan quản lý, giám sát thị trường chứng khoán. Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động của cơ quan quản lý, giám sát 4 thị trường chứng khoán tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức hoạt động của cơ quan quản lý, giám sát thị trường chứng khoán tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ, GIÁM SÁT THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.
Lý luận cơ bản về tổ chức và hoạt động 1. Lý luận cơ bản về tổ chức 1. Khái niệm tổ chức Tổ chức là vấn đề phức tạp, mỗi khoa học có cách tiếp cận riêng. Chẳng hạn, trong lĩnh vực tự nhiên, mỗi thực thể tồn tại được coi là một tổ chức, vì bản thân chúng được cấu thành từ những bộ phận, những thành tố khác nhau, có sự liên hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại, vận động và biến đổi không ngừng.
Ví dụ tổ chức của các vật thể vật lý, hóa học, cơ thể sinh học. Trong tư tưởng, nội dung tư tưởng bao giờ cũng được thể hiện dưới những hình thức nhất định, thể hiện bằng kết cấu ngôn từ và ngữ pháp, nghĩa là tổ chức tư tưởng. Thuật ngữ “Tổ chức” được nhiều ngành khoa học sử dụng với ý nghĩa không giống nhau: Theo quan điểm triết học Mác – Lenin định nghĩa “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung.
Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật”. Tổ chức là thuộc tính của sự vật, nói cách khác sự vật luôn tồn tại dưới dạng tổ chức nhất định. Nhân loại học khẳng định từ khi xuất hiện loài người, tổ chức xã hội loài người cũng đồng thời xuất hiện. Tổ chức ấy không ngừng hoàn thiện và phát triển cùng với sự phát triển của nhân loại.
Theo nghĩa hẹp đó, tổ chức là một tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó. Như vậy, tổ chức là tập thể, có mục tiêu, nhiệm vụ chung. Trong lĩnh vực xã hội, các tổ chức được hình thành từ hoạt động có ý thức của con người. Vì vậy tổ chức trước hết được hiểu là tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung.
Chẳng hạn, tổ chức chính trị, xã hội được hình thành trong quan hệ giữa các thành viên của nó. Mặt khác, tổ chức là hoạt động “làm thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định; làm thành có trật tự, có nề nếp; làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất”. Nhà nghiên cứu Xô-viết P.Kéc-gien-txép cũng cho rằng: “Tổ chức nghĩa là liên hợp nhiều người lại để thực hiện một công tác nhất định. Chúng ta cũng có thể gọi bản thân hình thức liên hợp đó là một tổ chức”.
Theo quan điểm đó, trong đời sống xã hội, phải phân biệt ý nghĩa hai mặt của khái niệm tổ chức: 6 Thứ nhất, tổ chức là một hoạt động - hoạt động liên hợp nhiều người lại để thực hiện một nhiệm vụ, mục tiêu nhất định. Thứ hai, tổ chức là tập hợp người có trật tự để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Trong quá trình hoạt động, do nhu cầu chung, những con người phải liên kết với nhau nhằm đạt được mục đích mà mỗi người không thể nào đạt được. Con người tập hợp nhau lại, bố trí, sắp xếp, phân công, phối hợp, tạo nên sức mạnh chung gấp bội phần.
Như vậy, tổ chức là hình thức, phương pháp hoạt động liên hợp của con người, là phương thức tồn tại của xã hội. Bản chất hoạt động của con người mang tính chất xã hội, do nhu cầu khách quan và hoạt động liên hợp mà xuất hiện những hình thức tổ chức xã hội. Tổ chức là một trong những hoạt động có ý thức của con người với nội dung là xác lập các mối quan hệ trong những thể chế nhất định, nhằm duy trì tính trật tự, để đạt mục đích mong muốn và hiệu quả cao. Một tổ chức chỉ tồn tại và hoạt động có hiệu quả khi nó phù hợp với những điều kiện khách quan và phục vụ cho mục tiêu nhất định.
Tổ chức là hình thức liên kết cụ thể giữa con người với con người trong một quá trình xã hội nhất định. Vì vậy nó được quy định bởi những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định, về mặt khách quan, một tổ chức ra đời trước hết được quy định bởi nội dung hoạt động của nó. Tổ chức là hình thức của nội dung, do nội dung quyết định. Nội dung là tổng hợp tất cả những yếu tố của tổ chức, các hoạt động và mục tiêu mà tổ chức đó cần đạt được.
Nội dung đó quy định phương thức tồn tại, mục tiêu mà tổ chức đó cần đạt được. Nội dung đó quy định phương thức tồn tại, vận động, sự liên hệ tương đối bền vững giữa con người và các bộ phận của tổ chức. Một tổ chức ra đời và phát triển còn được quyết định bởi hoàn cảnh lịch sử, điều kiện vật chất, thời gian, các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, tập quán, truyền thống, tư tưởng. Vì vậy, việc thiết lập hay xóa bỏ một tổ chức, cần tính đến những điều kiện khách quan, về mặt chủ quan tổ chức được tạo nên bởi con người, con người quy định mục tiêu, thiết lập và vận hành tổ chức, cho nên tổ chức bao giờ cũng mang đậm dấu ấn chủ quan của con người.
Con người phân công, phối hợp, liên hệ, đề ra yêu cầu cho hoạt động, các chuẩn mực cho các thành viên trong tổ chức. Nói cách khác, trong xã hội, tổ chức nào cũng do con người lập nên để thực hiện mục tiêu của mình. Tổ chức ra đời và hoạt động của nó là sự thống nhất giữa các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan. Hai nhân tố đó cần phải được coi trọng trong việc xây dựng tổ chức cũng như trong việc tổ chức các quá trình xã hội.
Nói tóm lại: Tổ chức là các hoạt động cần thiết để xác định cơ cấu, bộ máy 7 của hệ thống, xác định những công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ phận và giao phó các bộ phận cho các nhà quản trị hay người chỉ huy với chức năng nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ được giao. Cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức là hình thức tồn tại của tổ chức, biểu thị việc sắp xếp theo trật tự nào đó của mỗi bộ phận của tổ chức cùng các mối quan hệ giữa chúng. Cơ cấu tổ chức là cách bố trí, sắp xếp các bộ phận cấu thành tổ chức, nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức. Mỗi bộ phận và các yếu tố cấu thành có vị trí, vai trò nhất định, chúng liên hệ, tác động với nhau tạo ra cơ chế phối hợp và vận hành của cả hệ thống tổ chức.
Nói gọn lại cơ cấu tổ chức là sự kết hợp giữa cấu trúc các thành tố và cơ chế tác động, và vận hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cả hệ thống tổ chức. Cơ cấu tổ chức một mặt phản ánh tính chất, nhiệm vụ, chức năng của tổ chức, mặt khác nó tác động trở lại đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và cao hơn là phát triển tổ chức. Hệ thống tổ chức Hệ thống tổ chức là tập hợp các bộ phận có liên kết và phụ thuộc lẫn nhau, được sắp xếp theo một tổng thể thống nhất. Mỗi một sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội đều được coi là một hệ thống.
Đặc điểm của hệ thống là tính tương đối độc lập, thống nhất, chỉnh thể nhờ tương tác giữa các bộ phận trong cùng một hệ thống. Sự xác định hệ thống nào đó cụ thể là có tính chất tương đối, đó là mối liên hệ giữa hệ thống lớn và hệ thống nhỏ, giữa toàn thể và bộ phận. Mỗi hệ thống cần phân định chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận và sự thống nhất để đảm bảo rằng hệ thống không bị tách thành các đơn vị riêng rẽ, độc lập. Lý luận cơ bản về hoạt động 1.
Khái niệm về hoạt động Hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Theo tâm lí học mácxit, cuộc sống con người là một dòng hoạt động, con người là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau. Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội. Đó là quá trình chuyển hóa năng lực lao động và các phẩm chất tâm lí khác của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngược lại là quá trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể.
Chúng ta có thể hiểu hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa con người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và sản phẩm về phía con người. 8 Trong quá trình tác động qua lại đó, có hai chiều tác động diễn ra đồng thời, thống nhất và bổ sung cho nhau: Chiều thứ nhất là quá trình tác động của con người với tư cách là chủ thể vào thế giới (thế giới đồ vật). Quá trình này tạo ra sản phẩm mà trong đó chứa đựng các đặc điểm tâm lí của người tạo ra nó. Hay nói khác đi, con người đã chuyển những đặc điểm tâm lí của mình vào trong sản phẩm.
Sản phẩm là nơi tâm lí của con người được bộc lộ. Quá trình này được gọi là quá trình xuất tâm hay quá trình đối tượng hóa. Chiều thứ hai là quá trình con người chuyển những cái chứa đựng trong thế giới vào bản thân mình, là quá trình con người có thêm kinh nghiệm về thế giới, những thuộc tính, những quy luật của thế giới… được con người lĩnh hội, nhập vào vốn hiểu biết của mình. Đồng thời con người cũng có thêm kinh nghiệm tác động vào thế giới, rèn luyện cho mình những phẩm chất cần thiết để tác động có hiệu quả vào thế giới.
Quá trình này là quá trình hình thành tâm lí ở chủ thể. Còn gọi là quá trình chủ thể hóa hay quá trình nhập tâm.